Giữ lấy nghề truyền thống của cha ông

                                                         Bài và ảnh: KÔ KĂN SƯƠNG

Dưới bàn tay điêu luyện của nghệ nhân Hồ Văn Việt (thôn Vực Leng, xã Tà Rụt, huyện Đakrông), cây đàn Ta lư (tiếng Pa Kô gọi là Preh) tiếp tục cuộc hành trình góp phần thôi thúc đồng bào vùng khó vươn lên dựng xây quê hương trù phú. Tuy nhiên, nỗi lo về sự mai một nghề truyền thống vẫn luôn làm bận tâm anh Việt và những người tâm huyết bảo tồn, phát triển cây đàn Talư…

 

anh Viet1

Ngày ngày anh Việt say sưa chế tác đàn Ta lư

 

anh Viet2

Những lúc nghỉ ngơi, gia đình anh Việt đều đem đàn Ta lư ra giải trí 

 

*Không chỉ yêu nghề

Những cây đàn Ta lư bằng gỗ đủ kích cỡ từ cây đã hoàn thiện đến cây đang làm dở dang được treo cẩn thận trên vách tường ngôi nhà sàn giản dị của anh Hồ Văn Việt. Đam mê với nghề chế tác đàn Ta lư của ông nội và bố từ thời tấm bé truyền lại, anh không hề thấy nản khi hàng ngày, hàng giờ nghĩ suy làm sao duy trì và phát triển về mặt thẩm mỹ của loại đàn có đặc trưng riêng này một cách phù hợp nhất. Ngồi trên sàn nhà, nâng ly rượu trắng được nấu từ nếp bản và món lạp cá sông vừa câu về ban sáng ra mời khách, Việt say sưa nói về cách làm đàn Ta lư ngày xưa cũng như việc cách điệu đàn bây giờ.

Đàn Ta lư có nguồn gốc từ hàng trăm năm trước, nó gắn bó với cuộc sống tinh thần của người Vân Kiều và Pa Kô. Đàn ngày xưa được làm chủ yếu từ nguyên liệu tre, dễ làm và không tốn nhiều thời gian. Chỉ cần chọn loại tre già, chắc bằng cổ tay. Chặt tre thành một khúc dài khoảng 50-80 cm, sau đó, khoét thông hai đầu ống. Chọn một mặt của thân tre để tạo nên mặt trên của ống, sau đó khoét một lỗ nhỏ giữa phần mặt trên hai đầu ống. Từ đây, bắt đầu hoàn thiện các phần dây đàn bằng tre (chỉ có 2 dây), dụng cụ điều chỉnh cho căng dây đàn. Thời chống Mỹ, sức mạnh cổ vũ tinh thần của loại đàn đã góp sức cùng bà con nơi đây tiếp lương, tải đạn, đi theo cách mạng. Lúc này, cây đàn được cải tiến to hơn, hình thức đẹp hơn, đàn Ta lư bằng gỗ vì thế ra đời.    

Cầm trên tay cây đàn Ta lư, anh Việt tiếp tục nói về nhạc cụ mình tâm huyết. Cây đàn Ta lư bây giờ chủ yếu làm bằng gỗ. Vật liệu chính làm đàn là những cây mớc nhiều năm tuổi, sau đó dùng rựa tạo dáng cây đàn rồi treo trên giàn bếp cho khô. Đàn Ta lư nhìn bên ngoài gần giống cây đàn măng đô lin (của nước Anh và Mỹ) hay đàn nguyệt của dân tộc Việt nhưng nhìn kỹ lại rất khác biệt, thân đàn có hình bầu dục thon hơn và có 3 dây. Đàn gồm các phần: bầu dưới (a pôộc), thân trên (proong), phần trên cùng (plo), các cung bậc (kâl lăng), dụng cụ điều chỉnh dây (parviêt), dây đàn (ưm preh). Tùy theo sở thích của từng người mà chế tạo đàn to hay nhỏ. Điều đặc biệt, cây đàn cách tân này vẫn giữ được âm thanh êm ái và trong trẻo như cây đàn Ta lư nguyên thủy. Thường thì loại đàn nhỏ dành cho phụ nữ, loại đàn to dành cho đàn ông đánh. Thời gian làm một chiếc đàn nhỏ khoảng 6-7 ngày, đàn to khoảng 10 ngày. Khi chơi nhạc cụ này, đàn được đặt giữa lòng hai bàn tay, chỉ cần dùng 2 ngón tay cái để gãy đàn, các ngón tay khác luân chuyển tùy theo điệu nhạc. Âm thanh đàn phát ra rất trong. Người chơi đàn có thể vừa đánh đàn, vừa hát bài hát mình yêu thích. Điều đặc biệt là đàn Ta lư có thể chơi bất cứ ở đâu, hoàn cảnh nào. Không phân biệt già, trẻ, trai, gái, đàn Ta lư dễ chơi. Thông qua cây đàn, người Vân Kiều, Pa Kô có thể tỏ tình cảm buồn, vui với nhau. Tiếng đàn còn để giải trí lúc nghỉ ngơi, ru con, giao duyên, cầu mưa thuận gió hòa, mừng lễ hội…

Trong không khí ấm cúng, chúng tôi cùng gia đình anh Việt quây quần bên nhau. Đàn lên những điệu nhạc dân ca Xiêng vui nhộn do anh Kray Sức, cán bộ văn hóa xã Tà Rụt sưu tầm và dịch, anh Hồ Văn Việt cùng vợ là chị Hồ Thị Chưng cất cao tiếng hát. Tiếng đàn nghe vui tai, giọng hát tiếng Pa Kô với những câu từ thật cuốn hút. Anh Việt: “Tơơt chơơt rbaang k-lưng ai inh rôp lớiq kơơt dih kloong. Tốiq tốiq rbaang idau ai ing tuboong lớiq luôh dih kaang. Imo táp rpeh rngonh ơn nang hô caang aret xôh. Khan jôi aem tốq dung nchang vi mol la khóiq aai bui”(dịch: Đêm trăng anh muốn đến nhưng không có lối đi. Sao vắng vẻ, chỉ nghe tiếng dế kêu. Em còn nhà, chỉ cần thấy bónganhđã vui lắm rồi). Chị Chưng đáp lời: “Tơt chơt rbaang k-lưng achai ơi dôl aem chô côn. Muh náp hong dung ileeng klưưng lớip hôm ai tơq. Ơi lông aem ki cheq ma dơi lớiq hôm nau rôp.Nưm xang cơr xaang xiêng khên ta vê car xaang xop hô”(dịch: Đêm thanh trăng sáng anh ơi em vẫn chờ. Một mình trong nhà ngắm trăng đêm. Hé mở cửa sao không ai đến. Chỉ nghe tiếng khèn hòa tiếng suối… ).Tiếng vỗ tay rộn rã của khách làm anh Việt và chị Chưng hơi thẹn thùng nhìn nhau như những ngày đầu họ gặp gỡ nên duyên vợ chồng.

“Đàn Ta lư là một nhạc cụ không thể thiếu được trong các buổi văn nghệ, lễ hội, nam nữ giãi bày tình cảm… của các bản làng người Vân Kiều và Pa Kô. Tại liên hoan dân ca Việt Nam năm 2013 Khu vực Bắc Trung Bộ diễn ra tại thành phố Huế, với tiết mục dân ca làn điệu lal lih chủ đề đoàn kết, đoàn huyện Đakrông đã đạt thành tích xuất sắc. Để có được kết quả đó có sự đóng góp quan trọng của tiếng đàn Ta lư do nghệ nhân Hồ Văn Việt biểu diễn. Anh không chỉ đam mê giữ gìn nghề truyền thống của cha ông mà còn tích cực tham gia các phong trào văn hóa, văn nghệ của địa phương”, anh Kray Sức tự hào khi nói về nghệ nhân Hồ Văn Việt ở quê mình.

*Giữ lấy tiếng đàn trước nguy cơ mai một

Hiện giờ, số nghệ nhân còn chú tâm làm đàn Ta lư ở Tà Rụt đếm trên đầu ngón tay. Cả xã chỉ còn 3 người cao tuổi thường xuyên chế tác đàn là các ông: Mai Hoa Sen, Côn Thay và Côn Máy. Những người trẻ tuổi như anh Việt giờ rất hiếm ai cất công dành thời gian và tâm sức để làm đàn Ta lư. “Làm ra một cây đàn Ta lư mất khá nhiều thời gian và phải tỉ mẩn từng đường nét sao cho đúng âm thanh của cây đàn truyền thống. Bình quân mỗi tháng, nếu dành nhiều thời gian tôi chỉ làm được khoảng 3-4 cây. Tôi rất vui khi vừa rồi, anh Kray Sức có ý bỏ tiền túi để đặt tôi làm 5 cây đàn Ta lư phục vụ cho việc sưu tầm nhạc cụ truyền thống của anh. Cùng với sự xâm nhập của khoa học kỹ thuật, các phương tiện giải trí hiện đại, lớp trẻ bây giờ ít ai quan tâm học cách làm đàn. Do đầu ra cho sản phẩm rất khó khăn, nên phần lớn số đàn của tôi làm ra chỉ dành để tặng vợ và tặng người thân hoặc nếu có ai đặt mua thì làm…”, anh Việt có vẻ buồn buồn nghĩ đến “số phận” sau này của đàn Ta lư.

           Năm nay, anh Việt đã 40 tuổi nhưng so với tuổi của các nghệ nhân chế tác đàn Ta lư ở Tà Rụt thì anh trẻ nhất. Nếu không có những chính sách động viên kịp thời, có giải pháp duy trì và phát triển “thương hiệu” đàn Ta lư đi thì liệu trong nay mai còn ai chăm chút giữ lấy nghề truyền thống cha ông như anh Hồ Văn Việt? Liệu cây đàn Ta lư tiếp tục được duy trì để đi cùng năm tháng như những ca từ đẹp trong bài hát Tiếng đàn Ta lư (Huy Thục): “Đàn Ta lư em cất tiếng ca vang cùng núi rừng mừng thắng trận quê em…”.