Phóng sự của NGUYỄN LINH GIANG

 

BIA CUON SACH THEO DAU CHAN NHUNG NGUOI TIM VANG

Tập phóng sự "Theo dấu chân những người tìm vàng"
           của Nguyễn Linh Giang, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2015

 

Nhà báo Nguyễn Linh Giang, quê quán Cam Lộ, Quảng Trị; anh bắt đầu làm báo từ năm 1988 và đã có những phóng sự gây tiếng vang trên các báo: Văn Nghệ, Lao Động, Kiến Thức Ngày Nay... Hiện anh đang công tác ở Văn phòng phía Nam Báo Công Lý. Tháng 11/2015, Nhà xuất bản Thanh Niên đã xuất bản tập phóng sự: “Theo dấu chân những người tìm vàng” của Nguyễn Linh Giang. Ngày 31/10/2015, nhân chuyến về công tác ở quê hương, nhà báo Nguyễn Linh Giang đã có buổi giới thiệu sách và giao lưu với đồng nghiệp, bạn bè thân hữu tại Báo Quảng Trị. Chúng tôi xin giới thiệu một số phóng sự của Nguyễn Linh Giang in trong cuốn sách này.

Theo dấu chân những người tìm vàng

                                           “Chúng ta đi

                                            Máng dài trên vai

                                            Kéo đời người vươn dài theo năm tháng

                                            Trên lưng ta máng tròn lấp loáng

                                            Cuộc đời vần vũ dưới những vòng xoay...”

                                                   (Bài ca của người đi tìm vàng)

Cuộc gặp gỡ tình cờ: Đakrông!

Ở Hà Nội, lần đầu tiên tôi biết đến cuộc săn tìm vàng tại Đakrông qua những người bạn. Trong một quán rượu tồi tàn ở phố Lương Thế Vinh, thằng bạn học của tôi đang say sưa kể về những cuộc phiêu lưu hoang dã, cực nhọc của những toán quân xuyên rừng lội suối, tìm những lườn đất có vàng. Rồi vàng, vàng từng mạt lớn bằng hạt ngô, đãi ra sáng cả máng, rực một màu ánh kim. Câu chuyện luôn bị cắt bởi nhiều người là dân đãi vàng chuyên nghiệp hưởng ứng bổ sung. Rượu vào, da mặt của dân đi vàng tái lại, cuộc nhậu lai rai đến tận sáng. Cánh “Bắc tiến”, mà phần lớn là người Hà Nam Ninh vào làm vàng ở Đakrông hàng ba tháng trời mới trở về quê, tham gia góp chuyện. Những khuôn mặt hốc hác, đen sạm qua cái nắng gió dữ dội của miền Trung, nhưng đôi mắt hừng hực như có lửa. Đó là cái đam mê khốc liệt của con người, những kẻ nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều thành phần, nhiều lứa tuổi khác nhau, hội ngộ tại vùng sơn cước trong cuộc tìm vận đổi đời.

 

baold

Minh họa: Báo Lao Động chủ nhật

 

Cái ma lực của những câu chuyện, sự bừng tỉnh qua những trang sách của Jack London đã thôi thúc tôi hẹn hò một cuộc theo chân những người đi đào đãi vàng. Có người tin cẩn giới thiệu nên tôi được đồng ý ngay. Sau một tháng họ nghỉ ngơi, chúng tôi hẹn nhau ở Hà Nội, lên tàu thống nhất vào Nam. Đi từ sáng hôm trước, đến bốn giờ chiều hôm sau mới đến ga Đông Hà (Quảng Trị). Tất cả dân đãi vàng đều xuống tàu. Từ đây, tại Đông Hà, mốc cây số 0 của đường 9 sang Lào, bắt đầu cuộc hành trình của những người đi tìm vàng.

Trích “Nhật ký đi tìm vàng”: 21- 2

          “Hôm nay, bắt đầu lên đường. Gặp may. Ở ngã ba Đông Hà đã có xe bộ đội đi lên A Sao, A Lưới. Đó là tuyến đường đi tìm vàng. Trong thùng xe tải phủ bạt kín có khoảng hơn ba mươi người, đều dân đi đãi vàng. Xe bắt đầu đi lúc bảy giờ sáng. Đường 9 đầy dốc, xe lên xuống chao qua đảo lại, lắc lư như ngồi trên chiếc xe ngựa cà khổ. Rừng âm u, hai bên đường lác đác mới gặp vài người dân tộc Vân Kiều. Hôm nay đài báo thời tiết có mưa rải rác, đường đi nắng trải dài, mưa rồi chợt nắng. Mình chú ý thấy dân đi tìm vàng, người ta không kiêng cữ gì cả mà nói nhiều về công việc sắp tới. Ai cũng cầu khẩn cho chuyến đi “ăn mày” mệ gặp nhiều may mắn. Trong mắt mọi người đều rực lên một khát vọng làm được nhiều vàng. Đến cây số 41, có một trạm kiểm soát, nhiều người phải xuống đi bộ bởi xe chở quá trọng tải sẽ bị phạt. Đi bộ gần hai cây số mới lại lên xe. Đường quanh co, khúc khuỷu, nhìn bên đường thấy cột mốc cây số 49 thì phía trước đã sừng sững cầu treo Đakrông. Nhiều nhóm đi đãi vàng đang nghỉ ngơi, nấu cơm trên những bếp kê bằng đá trong khi chờ xe đi vào bãi vàng. Từ Đakrông, con đường đi tìm vàng không chạy dọc theo đường 9 mà rẽ qua cầu Đakrông theo đường 14 - đường hữu nghị Việt Nam- Cu Ba - một đoạn của đường Trường Sơn nổi tiếng thời chống Mỹ. Từ đường 9 rẽ vào thêm mười một cây số nữa. Tất cả mọi người trên xe đều xuống cây số 11. Đây là bãi quen thuộc trong những đợt đi tìm vàng lần trước. Đường từ dốc xuống bãi đi từ đỉnh xuống suối. Cứ đi, xuống mãi. Vai ba-lô, tay cầm máng dài, chưa gì mà đã biết mùi của dân đi rừng. Vãi cả mồ hôi ra. Rừng hoang vu, có đoạn dốc thật đứng, di chuyển phải bám theo các thân cây. Đi khoảng gần một giờ đồng hồ thì xuống bãi. Tiếng rì rào của suối vọng đến như trút được gánh nhọc nhằn. Bãi vàng đây rồi. Người và người, la liệt lán trại như cảnh trong những bộ phim về dân du mục. Nhìn về phía hữu ngạn, đất bị cày xới, đào rãnh ngang dọc, cây cối ngã và bị bật rễ lên. Không khí tấp nập còn gấp mấy lần ở các công trường. Bờ sông đã ra gần giữa, cát và sỏi sạn đã lấp cạn và lấn dần. Có nhìn cảnh làm vàng mới biết sức người là vô tận, không có gì là không làm được. Người và người, hàng nghìn con người đang đào đất, gánh, gồng, khuân vác. Dọc bờ sông, vô vàn máng dài và máng tròn. Bây giờ là mười một giờ trưa. Làm lán và đi tìm vùng đất. Lán của mình ở sát bờ sông, thật hay. Một buổi sáng kết thúc như vậy”.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức

          Nhóm của tôi gồm bốn người. Bác Chỉ, trưởng nhóm, người lực lưỡng, ngoài bốn mươi tuổi, là dân đãi vàng chuyên nghiệp đã từng dọc ngang ở các bãi vàng tận Hoàng Liên Sơn, ở Kim Ngưu (Hà Sơn Bình), Cẩm Thủy (Thanh Hóa) và Khe Vàng (Quảng Bình). Ở bác có một kho tư liệu sống động về dân đãi vàng khắp nơi. Chuyện của bác bao giờ cũng ly kỳ, hấp dẫn đến mức khó tin. Người thứ hai là già An. Vâng, ông đã bảy mươi mốt tuổi, con cái mỗi người một ngã, hai ông bà lão ở với nhau, già đang đi tìm vận may cho cuối đời mình. Khó có thể tưởng tượng được đằng sau cặp mắt mờ đục, chòm râu bạc trắng và cái dáng khòng khòng của già tàng ẩn những điều gì trong đó? Tôi và Thiện- thằng bạn thân, được coi như hai “át chủ bài” trong việc đào hầm, vác đất, vốn nặng nhọc nhất của quy trình đãi đất tìm vàng.

          Từ cây số 41 thuộc đường 9 trở ngược lên thượng nguồn của sông Đakrông này, ở đâu có bãi đất thì hầu như đãi đều có vàng. Những bãi nổi tiếng như cây số 2, 7, 11, 27 và 41 dọc theo các vùng Rào Quán, Tà Lưng, Tà Rụt đến A Lưới đều chứa vàng sa khoáng. May mắn thì gặp được bãi nhiều vàng, còn rủi ro thì một đợt đi mười ngày mỗi người chỉ được hai phân vàng. Bãi cây số 11 này thoáng, rộng nên hiện có khoảng ba nghìn người đang ngày đêm đào đãi. Dân các vùng dọc đường 9 như Tân Lâm, Ba Thung, Cam Lộ, Thiết Tràng... nhiều nơi bỏ cả đồng ruộng, đổ xô vào cơn sốt đi đào đãi vàng. Giá cước xe khách từ Đông Hà đi A Lưới đắt gấp đôi, rồi gấp ba mà người đi vẫn ùn ùn. Có những xí nghiệp ở vùng nông trường Tân Lâm, công nhân bỏ cả việc, đi đãi vàng. Rồi bộ đội đóng quân trên địa bàn, công việc làm kinh tế như tìm đót làm chổi xuất khẩu, lấy mây, khai thác gỗ chỉ là trên danh nghĩa. Thực tế tất cả đều bổ sung cho đội quân tìm vàng đông đúc trải dài trên từng cây số của đường Trường Sơn.

Trích “Nhật ký đi tìm vàng”

          “Sáng nay chuyển qua làm hầm mới, sát bờ sông hơn. Lại làm hầm, xúc đất và chuyển đất. Dần dần mình vác đất cũng khá lên. Chưa bao giờ mình làm việc cực nhọc như thế này. Đêm nằm ngủ ê ẩm cả người, tưởng như sáng ra không dậy được, thế mà buổi sáng vẫn cứ dậy đi làm như thường và còn làm hăng hái. Sáng nay, tập đãi máng dài. Đãi máng dài cũng không khó lắm. Thường là một người cầm xẻng xúc đất, còn người kia một tay cầm rổ và tay kia cầm gàu múc nước. Máng đặt nghiêng  bốn mươi lăm độ, dọc bờ sông. Rổ đan bằng nứa rừng, đặt đầu máng dài để lọc đá khỏi cát và sạn. Tay cầm gàu chuyên múc nước dưới sông, rải đổ lên đất, tay kia lắc cho đất trôi xuống máng và hắt đá ra phía dòng sông. Cứ thế tiếp tục. Dọc bờ sông người đãi dày đặc. Đất chuyển ra phải chen chúc nhau. Lần đầu tiên biết thế nào là ý nghĩa thật của câu nói: “Dời non lấp bể”. Đúng thật! Nguy cơ dòng sông bị thu hẹp thật rõ, chẳng bao lâu dòng sông chỉ còn lại dấu ấn. Nước bây giờ đã chảy xiết, đục ngầu”.

          “Sáng nay 23- 2, dậy sớm. Sáng miền núi đầy tiếng chim gù gọi bầy từ bên suối vọng sang. Tiếng suối chảy rì rào suốt đêm. Sương mù mỏng giăng khắp các đỉnh và sườn núi. Một buổi sáng nguyên sơ như thời tiền sử. Tiếng người ở suối vọng vào, các bếp lửa bập bùng, lóe sáng ở các lều lán. Không gian vang động dần bởi ngày làm việc đã bắt đầu. Tiếng người gọi nhau, những bước chân chuyển đất thình thịch xen lẫn tiếng gọi khẩn trương ăn sáng. Nhóm mình ăn từ mờ đất. Cầm dụng cụ tiếp vào hầm. Chuyển đất. Hôm nay hầm làm sâu, đất rắn, đầy đá, dùng xà- beng mới chọc có đất. Đây là tầng đá cuội. Đã xuống sâu hơn hai mét. Có vàng, mạt lớn và to như hạt gạo, hạt thóc nhưng mỏng dính”.

Đêm trắng trong cơn sốt vàng

          Đêm hôm qua, một đêm kinh khủng, man dại và dài lê thê. Một đêm rùng rợn trong cơn sốt vàng. Cuộc đời của một con người có bao đêm như vậy? Tôi sẵn sàng đổi lấy một năm tuổi thọ để không phải sống một đêm quái quỷ như thế này.

          Đợt này đi trời nắng nên chủ quan. Hôm trước, lúc làm lán cả nhóm nghĩ là làm che nắng nên lợp rất sơ sài. Thiên nhiên thường thay đổi tính nết như người đẹp đỏng đảnh, không thể nào lường trước được. Đêm qua, khoảng nửa đêm, mới nằm ngủ một lúc thì trời đổ mưa. Mùa này nếu có mưa thường mưa giông, ào đến rồi qua đi. Thế mà đây là một cơn mưa dai dẳng, mạnh rồi yếu và cứ rỉ rả, dùng dằng. Lúc đầu mưa nhỏ thì không sao, vẫn còn nằm yên ngủ, đến lúc mưa lớn phải ngồi dậy che tấm ni- lông, ôm khư khư ba- lô trước bụng. Đèn dầu bị ướt, vả lại gió mạnh, không sao thắp cháy được. Mọi người ngủ gà ngủ gật. Những tiếng sét ì ầm, lúc nhẹ nhàng lúc dữ dội, đinh tai nhức óc như lưỡi tầm sét của Ngọc Hoàng đang giáng xuống sự khốn cùng của dân làm vàng.

          Già An bảo:

          - Biết mà! Lúc chiều mang tác là động trời.

          Một kinh nghiệm đoán biết thời tiết thật hay! Lúc chiều, tự nhiên có tiếng mang tác bên kia suối. Lần đầu nghe tiếng mang tác, tiếng kêu như tha thiết của một sinh linh gọi đồng loại muốn được sống cùng cộng đồng của mình, vừa như ngơ ngác mỏi mòn trong sự cô đơn. Ôi, tiếng mang tác giữa rừng già nghe khắc khoải và ai hoài như một lời nhắn gửi.

          Mưa và mưa. Mưa gặm mòn ý nghĩ, mưa dột khắp lán lợp sơ sài. Đâu đâu cũng ướt, sờ đâu cũng thấy nước. Mưa lăn tròn qua kẽ tấm ni- lông làm ướt áo, thấm vào người làm ê ẩm cả một kiếp người. Từng giọt mưa rơi nghe lòng tê tái, thấm thía sự trầm luân, khổ ải của dân làm vàng. Gió lạnh rít liên hồi, thốc vào lán. Biết mùi rừng rồi. Giàng ơi! Sao khổ thế, nỡ nào lại quay mặt đi với dân làm vàng, những con người khốn khổ lên đây sống nhờ vào sự ban phát hào phóng của núi rừng. Khổ như con chó. Đêm tưởng như dài vô tận. Ngoài trời, một màn đêm đen kịt tưởng như có thể xắn ra được. Đêm miền núi có sao rất huyền diệu, nhưng gặp mưa thì nhìn đâu cũng một màu đen vây phủ. Đời của dân làm vàng thật gian nan, nếm trải mọi vất vả và cơ cực. Những lúc như lúc này thèm biết bao được nằm trong một mái nhà tranh đơn sơ, trên một chiếc giường tre và một tấm chăn mỏng. Một mong ước bình thường nhưng giờ đây khó thực hiện được.

          - Thôi, vừa rồi ông trời ơi. Đừng mưa nữa.

          Bao nhiêu lời cầu xin, kêu ca nhưng nào trời có biết, vẫn cứ mưa. Lán gần bên, chiều hôm qua có hai cô gái bán hàng rong đến ngủ nhờ, bây giờ tuy mưa, các cô có vẻ vui thú lắm. Trong đêm tối, ai biết điều gì xảy ra trong đó giữa những con người khác giới tính? Đó là sự thường tình. Giữa cảnh khốn khó này, con người ta thấy kiếp sống của mình thật mong manh, chẳng cần gìn giữ nữa, mọi quy tắc đạo đức không còn khắt khe, gò buộc, người ta dễ sống với bản năng của mình hơn. Thế giới tìm vàng là thế giới mới lạ, đầy bất ngờ và khó lường trước được, niềm mơ ước tưởng như nắm trong tầm tay, hóa ra lại khó với tới lắm. Bao nhiêu điều không chờ đón có thể xảy ra: công an đuổi, thiên nhiên khắc nghiệt hay ẩn số cuối cùng nằm lại dưới đáy máng tròn chỉ là vài ba mạt vàng bé nhỏ.

          Mưa dai dẳng, cầm chừng suốt đêm. Một đêm như sống trong thời trung cổ. Ai hiểu cho cảnh này nếu không đi làm vàng? Không ai hiểu hết! Chỉ có ai từng trải qua mới hiểu và thấm thía được. Cơn mưa làm người ta liên tưởng đến cả một kiếp người, đến sự thăng trầm của cuộc đời và số phận phiêu bạt của con người. Con người ta sinh ra để làm gì? Phải chăng con người ta sinh ra để chịu khổ ải? Đi tìm vàng- đi tìm cuộc sống. Đường đời vạn nẻo, bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu con đường khác nhau để đi đến tương lai. Sự run rủi nào đã làm cho hàng nghìn con người giã từ cuộc đời bình lặng của mình để lên đây với núi rừng? Trong đêm mưa, khi mà xung quanh là một màn đêm đen đặc, ngồi ngẫm từng giọt mưa rơi trên lán ni- lông, nghe tiếng gào thét giận giữ của con suối phình to ra bởi nước khách... thấy kiếp người thật nan giải, sinh ra để tự đày đọa mình bởi chính cuộc sống của mình. Ngày mai sẽ như thế nào đây? Hôm nay là những gì của hôm nay, còn ngày mai là một dấu hỏi lớn. Con người đi tìm vàng vô định cũng như thời gian, trôi nổi qua biết bao bến bãi, đáp số còn lại chỉ là những gì mỏng manh ở đáy lọ pê-nê-xi-lin - nhưng đó là sự óng ánh ngời sắc, rực sáng, đầy quyền lực mà người đời, bao nhiêu người đã ngã gục trước uy lực của nó.

          Ngồi yên bất lực dưới cơn mưa rừng, thấy cuộc đời thật vô nghĩa. Đang trong lúc bao nhiêu người, người cầu xin, kẻ không ngớt nguyền rủa ông trời không có mắt thì anh Quý cất tiếng hát. Những bài hát điệu bô-le-rô vốn đã lâm ly, ướt át, nghe trong đêm tìm vàng mưa ướt não nề thấy thật thê lương. Giọng anh không hay nhưng hát tình cảm, hát bằng tất cả tâm hồn trống trải, cô đơn và sầu thảm nên tưởng nỗi lòng là tiếng hát. Những người còn lại không ai ngủ cả, đều lắng nghe, đều dõi theo tiếng hát. Khi anh dừng hát thì bao nhiêu người lên tiếng: “Hát nữa đi... tiếp tục nữa...”.

          Đêm rùng rợn, kinh hãi của một kiếp người. Già An bảo: “Nắng ba trưa, mưa ba chiều”. Chao, mới một chiều mà như thế này thì ba chiều sẽ như thế nào?

Sự đùa giỡn của số phận

          Thế là hơn một tuần lễ đã trôi qua với biết bao sự kiện. Tối hôm qua, lúc đãi máng tròn xong, gạn vàng ra bát, hơ trên lửa rồi đổ vào lọ pê-nê-xi-lin, bác Chỉ lắc đầu, bảo:

          - Mới già một chỉ vàng. Chưa đạt.

          Bãi cây số 11 đã thấy thưa bớt người. Hàng ngày, từ bãi vàng nhìn lên con đường đi A Lưới ở lưng chừng núi đã thấy ít xe dừng lại, phần nhiều đi thẳng. Nghe đâu các bãi phía trên như các bãi cây số 27, 31, 34, 37 và 41 vàng rất dày, mạt lại to. Cả nhóm quyết định nhổ trại, tháo máng đi lên phía thượng nguồn. Cùng đi với nhóm tôi, còn có ba nhóm khác nữa. Lại trèo núi ngược lên đường lộ. Đi lên đâu? Cây số 53, 54 và cũng có thể lên 37! Đón được xe lính, cả đoàn ào lên, chen chúc trong thùng xe phía sau. Lên đến cây số 34, nhìn bãi nhỏ nhoi, dân tình thưa thớt mà thấy buồn bã. Nhóm của ông Mộ xuống 34, còn lại quyết định lên 37. Men theo con đường suối mà xuống bãi. So với đường xuống ở cây số 11 thì dễ đi hơn và ngắn nữa, bước qua các tảng đá và xuôi theo dòng nước. Bãi cây số 37 là một nhoi đất lổn nhổn đá liền bờ núi dựng đứng. Từng nhóm người đánh trần ra, dùng xà-beng dịch chuyển những tảng đá to như những chiếc bàn, tủ nguyên khối. Đất rất hiếm. Máng dài để chổng chơ, người đãi lác đác. Bù lại, vàng ở đây mạt rất lớn, có những mạt vàng bằng hạt đậu mỏng dính, bằng móng tay. Đãi xong một máng, nhìn vào đáy máng tròn, vàng lấp lánh trông đã thấy phấn chấn.

          Bãi cây số 37 là nơi hội tụ người khắp nơi. Ở đây có nhiều giọng nói khác nhau ở khắp mọi miền đất nước. Đông nhất là dân Đông Hà, Huế và Quảng Nam- Đà Nẵng. Phía bắc vào, đáng kể hơn cả là người Hà Nam Ninh và Thanh Hóa. Phía nam có người Bình Định, Quảng Ngãi ra. Nếu như bãi cây số 11 là một công trường mà đặc trưng là sự đông đúc, sôi động, ồn ào thì bãi 37 lại thiên về tinh chất. Trụ lại ở đây là những nhóm mạnh, có sức lực và giàu kinh nghiệm làm vàng. Có lẽ đãi vàng quy mô nhất là những người Hà Nam Ninh. Từng nhóm khoảng mười người, đi ròng rã hàng mấy tháng trời mới về nhà. Đặc biệt họ không đãi thủ công bằng máng mà đãi vàng bằng tời, lấy đất ngay giữa dòng suối. Mỗi tời thường có tám người làm. Đất lấy từ lòng suối lên, vàng rất dày và mạt lớn nên mỗi tời, một ngày làm khoảng nửa chỉ vàng là chuyện bình thường. Lán của người Hà Nam Ninh thường ở cách xa riêng biệt, ngày làm vàng, đêm uống rượu đến khuya. Mỗi tời thường có nhiều em bán hàng phục vụ tận tình, giá đắt cắt cổ nhưng được nợ đến cuối đợt mới thanh toán. Tuy vậy, ít khi thấy giữa họ có xảy ra những xô xát lớn.

          Phía cuối bãi vàng, khuất sau các bóng cây lớn là những người Quảng Bình, Vĩnh Linh. Một buổi trưa tôi đi dọc theo lườn đất ven triền núi, đến nơi những hầm của dân Vĩnh Linh làm vàng bỗng giật mình kinh ngạc. Không phải những hầm đào lộ thiên như thường thấy mà đây là các ngách sâu vào lòng núi, nhìn lạnh cả xương sống. Con người chui vào hang vét đất ra đãi, như con chuột tha bao tải khó nhọc. Mạng người thật mỏng manh, như treo đầu sợi tóc bởi có thể sập hầm lúc nào không biết. Nếu sập hầm thì ở độ sâu từ bảy đến tám mét làm sao mà thoát ra kịp, chỉ có thắp hương lên và để cho người chết nằm yên dưới mấy tầng đất đá. Nhìn vào hầm hun hút, phải dùng đèn pin mới lấy được đất chật vật. Ở trong hang đã từng bắt bằng tay được mạt vàng, không cần đãi, có mạt nặng gần ba phân vàng. Chưa có trường hợp nào sập hầm gây chết người. Chắc là kinh nghiệm đào địa đạo thời chống Mỹ đã dạy khôn cho họ.

          Hành trình trở về

          Vào ngày thứ chín của đợt đi, đang làm việc bình thường, đột nhiên hai phát súng trường vang lên ở phía đầu bãi.

          - Dân tộc đến. Chuẩn bị chạy mau!- Bác Chỉ quát lớn.

          Chúng tôi vội vàng dỡ lán, thu máng, vơ quần áo, soong nồi cho vào ba-lô chạy về phía cuối bãi, tìm đường sang suối. Bãi vàng nháo nhác, mạnh ai tìm đường chạy. Tiếng gọi nhau, tiếng quát ồn ào. Tôi đã từng nghe kể về các toán dân tộc ít người Vân Kiều dọc theo đường A Lưới này hay mệnh danh du kích ra trấn lột vàng, tiền và dụng cụ làm vàng. Họ bảo đưa vàng là phải đưa, không dài dòng nếu còn muốn tìm đường về quê mẹ. Mỗi lần người dân tộc đến chỉ có chạy trốn và rút về mới bảo toàn những gì mà mình có được. Bây giờ khoảng chín giờ sáng. Cả bãi vàng rùng rùng chuyển động như thực tập chiến đấu. Qua khỏi con suối nước đến thắt lưng, nhìn trở lại bên kia đông đặc người tìm cách lội qua suối ở chỗ cạn nhất. Dân tộc có sáu người, phần lớn đều có súng. Cảnh giành giật nhau máng và ba-lô đã xảy ra phía dưới bãi. Dòng người qua suối, ào ạt băng núi lên đường cái. Mọi người chạy đi trong một nỗi sợ mơ hồ ám ảnh.

Trở về. Không có xe, từng đoàn người đi bộ thất thểu. Hôm nay rất nhiều nhóm trở về. Có hai chiếc xe khách xuôi Đông Hà nhưng trên xe đầy người, không có chỗ hở để bám, hông xe, trần xe lô nhô đầu người và máng đãi vàng. Một buổi trưa đáng nhớ nhất trong cuộc đời. Cơn sốt vàng Đakrông, một cuộc hành trình trở về chưa bao giờ ngờ tới. Đi bộ. Còn ba mươi cây số nữa. Lưng đeo ba-lô và vai vác máng dài. Hun hút con đường dưới trời nắng như đổ lửa. Con đường Trường Sơn trải nhựa phẳng lỳ, dưới trời nắng, nhựa đường bốc lên hoa cả mắt, nền đường sủi bóng, đi như bị hun lửa. Đi như trong hoang tưởng, đi theo bản năng và thói quen trong tiềm thức. Vẫn đi, ra cầu Đakrông mới dễ đón xe. Đường quanh co, qua các dốc bình độ và yên ngựa, nhìn rất gần mà cứ vòng vèo mãi. Chốc chốc lại có một cái cầu, nhìn lên phía trước là những thác nước nhỏ, đổ từ trên cao xuống như dải lụa trắng. Đang đi trên đường nắng gắt, thèm biết bao được đẫm mình dưới làn nước trong mát ấy. Khát nước. Cơn khát dày vò, khô cả cổ và môi. Sao đường lại lắm quanh co và dài đằng đẵng như thế không biết. Đakrông! Đakrông! Cây số 2, rồi cây số 1. Đakrông đã rất gần rồi. Quành qua quành lại mãi, cuối cùng cầu treo đã hiện ra trước mắt. Nhìn chiếc cầu treo, tự nhiên tôi như muốn ngất xỉu, sung sướng đến phát khóc.

          Từ đây về thị xã Đông Hà còn bốn mươi chín ki-lô-mét nữa, con đường cửa ngõ sang Lào xe chạy rầm rập không ngớt.

          Thiên phóng sự này có thể kết thúc, khép lại một chuyến đi làm vàng. Sau này tôi được biết, đối với cơn sốt vàng Đakrông, đó mới chỉ là màn giáo đầu trong trò chơi quái ác của số phận.

                                                                                (1990)

Tháng bảy, về miền đất thiêng

        Miền Trung trải dài một dải đất hẹp, như là chiếc đòn gánh trĩu nặng ở hai đầu đất nước. Trên “chiếc đòn gánh” đó, Quảng Trị được coi là nơi oằn nhất, gánh chịu nhiều khổ cực, thương đau. Trong chiến tranh, Quảng Trị là nơi địa đầu giới tuyến, bom đạn đã chà đi xát lại, người còn sống như hạt gạo trên sàng. Có lẽ, không có nơi đâu trên đất nước mình mà xã nào cũng có nghĩa trang liệt sỹ, rồi huyện nào cũng có nghĩa trang liệt sỹ; không những thế, Quảng Trị còn có hai nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia. Tháng bảy này, xin được hành hương về thăm miền đất thiêng, nơi mà mỗi tấc đất đều thấm bao máu xương của các liệt sỹ, nơi chiến tranh đã đi qua gần bốn mươi năm nhưng vẫn chưa thể nào nguôi ngoai.

 

tha hoa

Thả hoa tưởng niệm trên sông Thạch Hãn.

 

1. Trên con đường thiên lý Bắc- Nam, đi qua vùng Quảng Trị thấy hiện lên những đồi cát chạy dài. Những trảng cát như hút mắt khách hành hương. Cùng với những đồi cát là các nghĩa trang liệt sỹ. Các nghĩa trang, phần lớn đều ở ven đường lộ, tiện đường giao thông; cách một quãng đường lại bắt gặp một nghĩa trang. Nhà ở của dân, có khi còn nghèo, đơn sơ nhưng các nghĩa trang liệt sỹ đều được xây dựng khang trang, được chăm sóc cẩn thận. Đó là các nghĩa trang liệt sỹ xã. Ở Qủang Trị có sáu mươi hai nghĩa trang như thế. Ngoài ra còn có tám nghĩa trang liệt sỹ huyện và hai nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia (Trường Sơn, Đường 9). Sau hòa bình, có những xã như Hải Thượng, chỉ có bốn nghìn dân nhưng đã có trên hai nghìn mộ liệt sỹ; xã Hải Phú, dân số ba nghìn người mà có tới một nghìn chín trăm sáu mươi mộ liệt sỹ. Toàn tỉnh Quảng Trị hiện có gần sáu vạn mộ liệt sỹ được mai táng trong bảy mươi hai nghĩa trang hiện có trên địa bàn.

          Ở Quảng Trị còn có một nghĩa trang lớn nhất, nghĩa trang chưa có tên và chắc mãi không có tên: nghĩa- trang- trong- lòng- dân! Đó là Thành Cổ Quảng Trị. Hiện tại, ở nghĩa trang Thành Cổ chỉ có chưa đến một nghìn ngôi mộ liệt sỹ, hầu hết là chưa có tên. Thế nhưng, trong tám mươi mốt ngày đêm chiến đấu để bảo vệ Thành Cổ rộng chỉ bốn ki-lô-mét vuông, nơi đây đã phải gánh chịu ba trăm hai mươi tám nghìn tấn bom đạn của Mỹ- ngụy (sức công phá tương đương với bảy quả bom nguyên tử mà Mỹ đã thả xuống Hirosima- Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai). Sau cuộc chiến, cả Thành Cổ chỉ còn là đống gạch vụn. Đã có hơn một vạn chiến sỹ Quân giải phóng đã anh dũng ngã xuống để bảo vệ Thành Cổ, xương thịt của các anh đã hòa lẫn vào đất. Vì vậy, có những chuyện có thật mà nghe khó tin. Sau giải phóng, người dân Thành Cổ mỗi lần đào móng làm nhà, chuẩn bị xây dựng một công trình thì đều chuẩn bị tiểu sành, hương hoa bởi họ biết mỗi lần đào đất lên, thế nào cũng gặp hài cốt liệt sỹ! Một Thành Cổ nhỏ bé, rộng bốn ki-lô-mét vuông, sau giải phóng chỉ có ba nghìn một trăm ba mươi hai gia đình mà đã có đến năm trăm gia đình thương binh, liệt sỹ. Trung bình, cứ hai người dân chăm sóc một ngôi mộ liệt sỹ.

          2. Những nghĩa trang trải dài suốt dải đất Quảng Trị cũng chưa nói hết nỗi đau chiến tranh. Có những liệt sỹ hy sinh nhưng đến hôm nay chưa biết mộ phần ở đâu? Trong chiến tranh, có lẽ người chịu nhiều mất mát, thương đau là các bà mẹ. Tiễn con ra đi, nhiều bà mẹ không có được ngày đoàn tụ, đón con trở về.

          Từ thị trấn Diên Sanh, rẽ về tiểu lộ 8, qua Vĩnh Thắng, chúng tôi đến thăm Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hòe ở xã Hải Vĩnh. Mẹ Hòe có một người con trai độc nhất là liệt sỹ. Mẹ cười móm mém: “Mẹ có thằng con đã cho cách mạng nhưng bù lại mẹ được tận mắt nhìn thấy nước nhà độc lập, quê hương ngày càng đổi mới. Được các chú quan tâm, xây cho ngôi nhà che nắng, che mưa là mẹ mừng”. Còn mẹ Võ Thị Sản, ở xã Hải An là Mẹ Việt Nam Anh hùng có ba con liệt sỹ thì cầm tay chúng tôi mà nước mắt chảy dài: “Các con đến thăm, mẹ như thấy được bóng hình của các con mẹ trở về”.

          Ở Quảng Trị, những bà mẹ bình dị mà lớn lao. Mẹ Diêu Cháu, mẹ Hòang Thị Sáng ở làng Mai Xá, huyện Gio Linh. Các mẹ này đều có con trai đi họat động cách mạng, bị giặc bắt, tra tấn dã man rồi chặt đầu đem cắm lên cọc tre bêu đầu ngòai cổng chợ. Nghe tin con bị giặc chặt đầu, các mẹ vô cùng đau xót và đi lấy đầu con về chôn cất. Về câu chuyện này, nhạc sỹ Phạm Duy đã sáng tác bài hát “Bà mẹ Gio Linh” nổi tiếng. Mẹ Nguyễn Thị Dương ở thôn Gia Đẳng (Triệu Phong) có đến sáu người con là liệt sỹ: Đoàn Định, Đoàn Giao, Đoàn Anh, Đoàn Cư, Đoàn Thị Tùng và Đoàn Hà. Mẹ còn có ba người con được phong quân hàm tướng, tá: đó là Đại tướng Đoàn Khuê, Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy. Gia đình thuộc lọai chính sách, là mẹ của các vị tướng, thế nhưng khi đồng chí Đỗ Mười về thăm, mẹ chỉ nói một ước nguyện giản dị: “Mẹ mong muốn cuối đời được một miếng đất nhỏ gần con cháu để sau này mất đi, mẹ sẽ nằm xuống đó cho con cháu đi thăm viếng được gần!”.

          Qua nhiều đợt phong tặng, đến nay toàn tỉnh Quảng Trị có gần một nghìn mẹ được Nhà nước phong tặng Mẹ Việt Nam Anh hùng. Hiện có chín mươi lăm mẹ còn sống. Tất cả các mẹ đều được các cơ quan, đơn vị phụng dưỡng đến suốt đời. Mảnh đất nghèo nhưng luôn ấm áp tình người.

          3. Hàng chục năm nay, cứ vào dịp 27-7, cựu chiến binh Lê Bá Dương- một người lính năm xưa đã từng chiến đấu ở Thành Cổ Quảng Trị, năm nào cũng trở về viếng thăm đồng đội cũ của mình đã nằm lại đâu đó xung quanh Thành Cổ, dưới dòng sông Thạch Hãn. Lê Bá Dương đã dùng một chiếc thuyền, chở đầy hoa, đi từ thượng nguồn trôi về xuôi và anh đã thả những cành hoa tưởng niệm xuống dòng Thạch Hãn. Lê Bá Dương đã viết những câu thơ gan ruột để tưởng nhớ đồng đội của mình: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”. Lâu dần thành lệ. Các đồng đội cũ, chẳng ai bảo ai, mỗi năm tìm về một đông. Chiếc thuyền mỗi năm một đầy thêm hoa. Gần đây, hình thức tưởng niệm này đã trở thành một nghi lễ. Hòa cùng với các anh, trên chuyến đò ngang sang Thành Cổ, vào dịp 27-7 các mẹ, các chị cũng thả xuống dòng sông những bó hoa tươi. Nghi thức tưởng niệm đơn sơ mà nhiều ý nghĩa.

          Tháng bảy này, phía bờ bắc sông Thạch Hãn đã hiển hiện lên một ngôi đền tưởng niệm. Đây là bến thả hoa bờ bắc sông Thạch Hãn (phường An Đôn, thị xã Quảng Trị) vừa được khánh thành vào tháng 7-2012. Tháng bảy này, nắng và gió Lào vẫn miên man thổi trên miền đất Quảng Trị. Nắng và gió sẽ làm tươi thắm hơn sắc hoa- những cành hoa mà đồng bào, đồng chí đã thả xuống dòng Thạch Hãn để vọng tưởng. Tôi, một người con của Quảng Trị, không kịp hành hương về trong dịp đại lễ, bài viết này xin thay một cành hoa thả xuống dòng Thạch Hãn, là một nén nhang thắp trên đài liệt sỹ để tri ân các bác, các anh.

                                                 (2012)

Cồn Cỏ, đảo tiền tiêu

A. 13. 1. TAC GIA DEN VOI CON CO
Tác giả đến với đảo Cồn Cỏ

 

          Cồn Cỏ là một đảo nhỏ, rộng chỉ 2,3 ki-lô-mét vuông, nằm ngoài khơi tỉnh Quảng Trị, hơi chếch về phía bắc vĩ tuyến 17 (17 độ 10 phút vĩ bắc và 107 độ 21 phút kinh đông). Với vị trí địa lý này, Cồn Cỏ đã trở thành tiền đồn của miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Chiến tranh đã đi qua bốn mươi năm. Hòn đảo xưa đã trở thành huyện đảo Cồn Cỏ với sự lột xác thay da. Bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, giữ vững chủ quyền đất nước trên biển Đông, Cồn Cỏ đang từng bước phát triển kinh tế, du lịch, xứng đáng với vị trí tiền tiêu.

          Tiền đồn của đất nước trên biển Đông

          Từ Cửa Tùng (huyện Vĩnh Linh), chúng tôi theo tàu đi ra Cồn Cỏ. Nhìn chiếc tàu chở gạch, xi- măng, sắt thép, gỗ... và còn chở thêm một chiếc ô tô tải, tôi biết công việc xây dựng ở đảo những ngày cuối năm đang bận rộn, khẩn trương. Tàu còn chở thêm các hàng nhu yếu phẩm như gạo, mì gói, nước giải khát và cả bia Huda thì đã thấy xuân đến gần kề. Tàu hàng chở nặng nên mặc dù Cồn Cỏ cách Cửa Tùng chỉ mười lăm hải lý nhưng phải hai giờ rưỡi đồng hồ chạy trên biển, chúng tôi mới đến được đảo. Cồn Cỏ hiện ra như một đô thị nhỏ với trụ sở các cơ quan, nhà cửa, đường phố khang trang, ngăn nắp.

          Vì là ngày chủ nhật nên anh Lê Quang Lanh, Bí thư kiêm Chủ tịch huyện đảo Cồn Cỏ tiếp tôi ngay tại quán cà phê. Anh từ tốn, chưa nói gì về công việc. Rồi anh gọi Nguyễn Thanh Nghĩa ở Huyện đoàn Cồn Cỏ lấy xe máy dẫn tôi đi một vòng thăm đảo. Bờ biển vòng quanh đảo dài hơn sáu ki-lô-mét, có con đường nhựa dài năm ki-lô-mét. Cồn Cỏ là một đảo tốt tươi, trù phú với thảm thực vật rừng chiếm đến hai phần ba diện tích đảo. Đảo có nhiều cảnh đẹp như ghềnh cát dài ở phía đông đảo, gọi là bãi Hi- rôn. Phía tây đảo có hòn Con Rùa, như một con rùa khổng lồ in bóng đen kịt trong quầng bụi mờ sương. Đứng trên “đồi Hải Phòng”- tức cao điểm 63, nhìn ra xung quanh thấy rõ tuyến kè biển đang được xây dựng, âu thuyền, cảng cá, trụ sở ban ngành huyện, đài phát thanh, nhà văn hóa- phòng truyền thống... Một đô thị trẻ đã được hình thành và trụ vững giữa biển khơi.

          Anh Lê Quang Lanh cho biết, ở Cồn Cỏ trước năm 1959 chưa có người, trước năm 2000 chưa có dân, chỉ có bộ đội đồn trú làm nhiệm vụ quân sự. Tháng 3/2002 có bốn mươi ba đoàn viên thanh niên xung phong ra xây dựng đảo. Đến năm 2004 thì huyện đảo Cồn Cỏ chính thức được thành lập với định hướng xây dựng Cồn Cỏ trở thành một đảo du lịch, cơ cấu: du lịch- dịch vụ- thủy sản- lâm nông nghiệp. Trong mười năm phát triển (2004 - 2014), Cồn Cỏ đã xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ quốc phòng, đã hình thành và khẳng định một thực thể kinh tế lãnh thổ cấp huyện trên một đảo tiền tiêu, chứng minh tính đúng đắn của dân sự hóa. Đảo có dân số gần bốn trăm người. Hệ thống chính trị của huyện đảo với mô hình tinh gọn, nhất thể hóa, hoạt động tương đối hiệu quả. Suốt mười năm, trên đảo không có tội phạm hình sự, không tệ nạn xã hội, không có tai nạn giao thông.

          Những cư dân đầu tiên trên đảo

          Lứa thanh niên xung phong đầu tiên ra xây dựng đảo Cồn Cỏ, gồm có bốn mươi ba đoàn viên, chủ yếu ở hai xã Vĩnh Quang, Vĩnh Thạch, thuộc huyện Vĩnh Linh. Các bạn trẻ đó, nay có mười một người đã thành đôi, trụ lại ở khu nhà 15 hộ. Đó là những cặp vợ chồng như Diệu- Nhân, Hiền- Ái, Phong- Nhung, Nga- Vĩnh... Tôi đến thăm nhà của vợ chồng Nguyễn Đức Hiền- Nguyễn Thị Thúy Ái, hai người đều là thanh niên xung phong ra đảo chuyến đầu tiên. Hiền đang làm nghề đi biển, bủa lưới gần bờ; còn Ái là công nhân vệ sinh môi trường của huyện. Họ có hai con gái ngoan, xinh là Ngọc Ánh và Khánh Ly. Đặc biệt, bé Ngọc Ánh sinh ngày 10/8/2003 là công dân đầu tiên sinh ra trên đảo Cồn Cỏ. Vì ở đảo chỉ có trường mẫu giáo, nên đến tuổi đi học lớp 1 phải gửi vào đất liền theo học. Ngọc Ánh hiện ở với ông bà ngoại, học lớp 6 Trường Trung học cơ sở Cửa Tùng. Chị Trần Thị Quyệt ở xã Vĩnh Giang (huyện Vĩnh Linh) cũng là thanh niên xung phong tình nguyện ra xây dựng đảo đợt đầu 2002 và trở thành cư dân của đảo. Chị làm việc ở Cảng cá huyện Cồn Cỏ. Hiện chị là công nhân môi trường đô thị.

          Anh Phạm Thanh Tuấn, Bí thư Huyện đoàn Cồn Cỏ cho biết, toàn huyện có năm tổ chức đoàn trực thuộc và hai tổ chức đoàn phối thuộc với một trăm ba mươi hai đoàn viên thanh niên. Các đoàn viên thanh niên trên đảo đã mạnh dạn áp dụng ngành nghề mới, thị trường mới để sản xuất kinh doanh, có thu nhập từ năm mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng một tháng. Điển hình như gia đình các anh Lê Văn Hiền, Lê Văn Vĩnh... Các mô hình chăn nuôi bò, lợn, dê, gà ở đoàn cơ sở quân sự, chi đoàn công an huyện, chi đoàn phối hợp Đồn Biên phòng Cồn Cỏ.

 Chúng tôi đến thăm Trường Mầm non Hoa Phong Ba trên đảo Cồn Cỏ. Trường có mười cháu theo học, có hai cô giáo. Cô giáo Hoàng Thị Hiếu nói rằng, đây là ngôi trường tạm, vì trường cũ đã bị cơn bão năm 2013 làm đổ sập, hiện đang được xây dựng lại khang trang hơn. Nhìn các cháu nhỏ vui đùa tung tăng trong lớp học, tôi nghĩ rằng đây là những nụ mầm quý giá của Cồn Cỏ - những hoa phong ba giữa biển khơi sẽ là chủ nhân xây dựng Cồn Cỏ mai này.

          Anh Lê Quang Lanh, Bí thư kiêm Chủ tịch huyện đảo Cồn Cỏ trầm tư: Trong các mục tiêu xây dựng huyện đảo Cồn Cỏ trong mười năm qua, có lẽ mục tiêu di dân là chưa đạt được. Ví dụ, đợt thanh niên xung phong ra đảo đầu tiên, đến nay chỉ còn ở lại huyện hai mươi bảy người. Nguyên nhân là có nhiều người ở vùng ruộng, ra đảo không quen nghề biển, không có ruộng nên họ trở lại vào bờ. Rút kinh nghiệm nên vừa rồi chúng tôi mới xây dựng mười căn nhà để phục vụ di dân ra đảo vào năm 2015. Lần này, chúng tôi ưu tiên các đối tượng là nghề cá và hoạt động du lịch. Mười ngôi nhà đã xây dựng xong, gồm nhà, điện, nước, hệ thống giao thông nội bộ hoàn chỉnh với kinh phí xây dựng hết mười hai tỷ đồng, đang chờ đợi các bạn trẻ ra sinh cơ lập nghiệp, xây dựng đảo Cồn Cỏ. Đồng tình với quan điểm đó, ông Hoàng Văn Định, Phó Công an huyện đảo Cồn Cỏ nói rằng, chúng ta đang kêu gọi dân ra xây dựng đảo Cồn Cỏ, điều quan trọng là tạo việc làm ổn định thì dân mới gắn bó lâu dài.

          Cồn Cỏ sẽ vươn mình?

          Cồn Cỏ là một hòn đảo đẹp và trù phú. Nơi đây có thảm thực vật rừng phong phú với rừng chiếm đến hai phần ba diện tích, có nhiều loại gỗ quý như gụ, lim, chò, dạ hương... Bao quanh đảo là một ngư trường rộng lớn, tập trung nhiều loại hải sản như cá, mực, tôm hùm, con khởi (một loại như cua, nhưng nhỏ hơn, rất ngon, chỉ có ở Cồn Cỏ); đặc biệt là cua đá. Con cua đá ở đảo Cồn Cỏ đã lừng danh qua bài hát của Ngọc Cừ: “Cồn Cỏ có con cá đua là con cua đá...”. Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ đã được thành lập từ tháng 2/2010, có diện tích 4.532 héc-ta, nơi đây có nhiều rạn san hô đẹp, còn khá nguyên vẹn, nước trong và ấm, rất thích hợp với du lịch. Cồn Cỏ có tiềm năng du lịch nghỉ dưỡng, thể thao trên biển, lặn biển, đi dạo đường mòn trong rừng... Cồn Cỏ lại không cách quá xa và không gần bờ (cách Cửa Tùng mười lăm hải lý, cách Cửa Việt mười bảy hải lý). Kết nối tam giác Cửa Việt - Cửa Tùng - Cồn Cỏ cho du khách trên tuyến Hành lang Kinh tế Đông - Tây, qua cửa khẩu Lao Bảo, vốn là con đường ra biển ngắn nhất dành cho các du khách ở sâu trong nội địa Thái Lan, Lào, Myanmar là một ý tưởng quá thú vị. Cồn Cỏ còn có sự hấp dẫn là một chiến trường xưa, là “một pháo hạm không chìm” của Việt Nam hiên ngang giữa biển Đông trong thời kỳ giữ nước. Vậy, vì sao Cồn Cỏ chưa phát triển xứng với tiềm năng của mình?

          Vấn đề cốt tử ở đảo Cồn Cỏ là nước ngọt đã được giải quyết. Giữa trung tâm huyện đảo là một hồ chứa nước, vừa tạo cảnh quan môi trường, vừa dự trữ nước ngọt cho cả đảo đủ sức dùng quanh năm; hệ thống giếng bơm có khắp khu vực đảo. Khó khăn hiện nay là điện, phải chạy bằng máy diezen; trước tháng 2/2014 thì mỗi ngày chỉ có điện trong mười hai giờ, hiện nay mỗi ngày có điện mười lăm giờ, không đáp ứng đủ cho nhu cầu sinh hoạt và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mong muốn của huyện đảo là Nhà nước đầu tư xây dựng công trình cấp điện từ hệ thống lưới điện quốc gia cho huyện đảo Cồn Cỏ bằng cáp ngầm. Bên cạnh đó là phương tiện đi lại. Hiện nay, cán bộ, nhân dân, các nhà đầu tư và du khách ra đảo, vào đất liền đều đi nhờ tàu công vụ của huyện hoặc tàu quân sự, tàu chở hàng, tàu đánh cá. Đã mười năm thành lập nhưng huyện đảo Cồn Cỏ vẫn chưa có một chiếc tàu vận chuyển hành khách giữa đảo và đất liền. Một chiếc tàu như vậy, theo anh Lê Quang Lanh, đầu tư khoảng bốn mươi tỷ đồng. Mức kinh phí này vượt ra ngoài khả năng của huyện đảo Cồn Cỏ và tỉnh Quảng Trị.

          Đêm trên đảo Cồn Cỏ rất yên tĩnh và thơ mộng. Các con đường chính của đảo đã được tráng nhựa và có đèn đường. Chúng tôi đi dạo trong cái rét ngọt đầu đông. Ngoài kia, tiếng sóng biển vỗ rì rào. Mười năm, Cồn Cỏ đã lột xác thay da. Sự đổi thay này thật kỳ vỹ, bởi vì như anh Lê Quang Lanh cho biết, đưa được một cân thép, một bao xi- măng ra xây dựng đảo đều là chuyện không dễ. Nhà xây dựng ở đảo đắt gấp đôi nhà ở đất liền. Bờ kè chống xói lở bảo vệ đảo dài chỉ hơn hai ki-lô-mét có chi phí lên đến hai trăm năm mươi tỷ đồng. Cồn Cỏ như một cô gái đẹp chỉ mới trở mình, thức giấc! Bao giờ, “người đẹp” Cồn Cỏ mới tỏa hương sắc? Tôi tin, ngày đó không xa, khi hòn đảo tiền tiêu này đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư gần xa.

                                                                              (2014)