Người hai tổ quốc

                                                    Kịch dài - HỮU ĐẠT

NHÂN VẬT

1. Nguyễn Thanh Hứa - Nguyên chính trị viên quân tình nguyện Việt Nam - Sau chiến tranh, Bí thư, Chủ tịch một huyện tại Lào

2. Nết - Cô gái người Lào gốc Việt- cháu ngoại của già bản May Try

2. Đức - Đại đội trưởng - Giám đốc sở.

3. Thoong May - Thanh niên Lào

            4. May Try - Già bản Lào.

5. Lan - Văn thư,

6. Đồng - Cán bộ văn phòng

7. Hà Mi- Con gái Hứa và Nết,

            8. Long - Con trai Đức

          (Một số nhân vật quần chúng, thanh niên Lào, Kiên - Đại đội phó,CS thông tin, Cán bộ Lào )

 

MÀN 1

Sân khấu hiện ra cảnh một cánh rừng già có nhiều cây cao, rậm rạp dây leo chằng chịt.

Hứa: (Chiến sĩ Q.Đ.N.D Việt Nam đội mũ cát pi uất hiện, anh bước loạng choạng, mệt mỏi, ôm ngực, xoa đầu rồi buông súng, cởi ba lô thả bịch xuống.. Anh cố đứng dậy, đưa bi đông nước lên uống, nhưng hình như chả có giọt nào. Cố đưa bi đông lên cao, nhìn vào sâu bên trong, lắc lắc mấy cái, bất lực. Gục xuống bất tỉnh. Âm nhạc trào lên. Mấy phút sau, Nết một cô gái mang trang phục Lào, đeo gùi bước ra).

Nết:

(Vừa đi vừa hát.) Ơi chàng trai đó ơi! Mình em hát, mình em lăm tơi… múa một mình sao nó không đẹp! Không đẹp! Không đẹp… anh với em ra đây cùng phòn. Trông kìa có đôi tay mềm... (Bỗng dừng lại hoảng hốt kêu to) Ui… ui… ui chao! Có người chết… giàng ơi! Pho me, bản làng ơi! Có người chết! (Quay lưng định bỏ chạy, nhưng hình như nhớ ra điều gì, vội dừng lại)… Ui.. hình như là bộ đội Việt Nam… Ừ… đúng rồi… bộ đội Việt Nam rồi. Có cái ngôi sao trên mũ đây là đúng rồi, mà bộ đội thì có gì mà sợ… có lẽ anh ấy chưa chết... phải lại gần xem thử? (Rón rén bước lại nghiêng ngó). Này… ải ơi! Thá hãn Việt Nam ơi! Sống hay đã chết vậy? Này bộ đội ơi! Bộ đội còn sống đó không? (Bước tới đứng tần ngần lo lắng, cúi xuống lay lay, đặt tay lên trán Hứa, giật mình.)

- Ui! May quá! Còn sống. Ui!... Sao người nóng dữ quá vậy? Chắc là bị con ma rừng bắt rồi. Này… bộ đội ơi! Tỉnh lại đi. Mau dậy đi… kẻo con ma rừng bắt đó…

Hứa: (Cựa mình thều thào.) N…ư…ớ…c….Nư…ớ…c .  Nặm n…ặ…m.

Nết: (Cầm bi đông lên lắc lắc mấy cái, lắc đầu bỏ xuống. Cúi xuống tìm trong gùi, lấy ra một ống bương, kề vào miệng Hứa. “Nặm ni Kinh đơ”. Anh vùng dậy, chụp ống bương đưa lên cao toan dốc uống, nhưng Nết đã tranh lại).

Không được đâu… bộ đội ơi! Chỉ được uống bớt khát thôi, không uống nhiều được đâu. Thôi… bộ đội cứ nằm nghỉ, để nọng về bản tìm người tới giúp. Nhớ nằm đây, không được đi đâu đấy. (Nết quay ra, được một lúc) Non đơ.

Hứa: (rên hừ hù, trở mình cố lết đi)

Ôi… khát quá…. N..ư…ớ..c… cho tôi nước. Hình như …dưới này có… con suối thì phải. Ôi khát quá.

(Hứa lết bò ra khỏi sân khấu. Một lúc sau, Nết dẫn hai thanh niên Lào cùng một già bản bước vào.)

Nết:

Bộ đội ơi! Ải ở đâu? Nọng đưa người đến giúp ải đây (Dừng lại ngơ  ngác ngó quanh ngó quất) Ui!Đâu rồi? Bộ đội Việt Nam đâu rồi? Lúc nãy đang nằm ở đây mà.

Thoong May:

Đúng là có người vừa nằm đây! Mũ, súng, ba lô còn đây. Chắc là đi tìm nước uống rồi? (Bắc tay lên miệng làm loa gọi) Bộ đội ơi! Bộ đội đâu rồi? Bản mường cho người đến cứu bộ đội đây (Tất cả đều bắc tay lên mồm hú gọi). “Thá hãn ơi! Phathẹt Việt Nam ơi!”

May Try: (Quay lại hai thanh niên quát):

Có đúng là bộ đội Việt Nam không? Hay là phu mi ngụy Lào?

Nết:

 Đúng mà con thấy có ngôi sao trên mũ mà.

May Try:

Vậy thì xuống suối xem thử có bộ đội dưới đó không? Nhanh lên, kẻo uống nhiều nước là chết đó (Hai thanh niên Lào vội lao nhanh theo hướng Hứa vừa bò ra)

Tiếng vọng:

Già bản ơi! Tìm ra bộ đội Việt Nam rồi! Ui anh ta… không biết gì nữa đâu… chắc là chết rồi. Ui sợ lắm! Tái… Tái lẹo đơ? – Tái lẹ -chết rồi… Bộ đội Việt Nam chết rồi… già bản… ơi!

Nết: (Rúm người run rẩy)

Tái?… Tái lẹo! Chết rồi sao? Mới vừa đây… bộ đội còn tỉnh lắm mà. Nết vừa cho bộ đội uống nước mà! Sao… sao lại chết nhanh thế? Bộ đội ơi! Hu hu… hu hu anh đợi em có lâu không? … Sao anh chết nhanh vậy (Khóc)

 May Try:

Đưa bộ đội lên đây cho ta coi coi! (Nết lóng ngóng chạy ra phía có tiếng gọi. Thoong May và thanh niên hì hục khiêng Hứa vào) Chết cũng phải làm ma cho bộ đội Việt Nam chớ.

(Bước tới nhìn chằm chằm vào Hứa, rồi quỳ xuống áp tay vào trán anh.)

Ơ đúng là bộ đội Việt Nam rồi! Có cái sao nơi mũ đây mà. (cúi xuống sờ người Hứa): Ui… ui còn sống. Ui chao người nóng lắm. (ngửng lên nhìn mấy thanh niên Lào) Chưa chết! Chưa chết đâu. Mau!… Mau mau chuẩn bị lễ, để ta bắt con ma rừng cho bộ đội...

Thoong May:

          Bộ đội Việt Nam đi đâu mà bị con ma rừng bắt thế này?

Già bản:

Sang giúp ta đánh giặc, giành tự do độc lâp, chớ đi đâu nữa (Quắc mắt quát lũ thanh niên) Soạn lễ nhanh lên để ta bắt con ma cho bộ đội. Bộ đội chết, là dân bản ta có tội đó. Mau mau …để ta làm phép bắt con ma ra khỏi người bộ đội (Mấy thanh niên vội đốt lên một đống lửa, Rồi chạy vào rừng bẻ lá trải thành một tấm thảm.)

Nết:

Để con chạy về nhà, bắt con gà, lấy ít khẩu niêu, rượu ra làm lễ chớ!

Già bản:

Ừ!  Nhanh lên nghe!

Nết: (Biến mất, một lúc sau xuất hiện) Đủ rồi đủ cả rồi già ơi!

Già bản:   

Nhanh lên!

Nết:

(Đặt gùi xuống, luống cuống lấy ra chuối, xôi và một con gà còn sống, chai rượu, muối… Một thanh niên dùng rựa cắt tiết gà vào cái bát. Trang trọng để tất cả lên thảm lá. Già làng quỳ xuống chắp tay trước ngực, ngửa mặt nhìn trời, kêu lên):

Ôi giàng ơi! Ơi thần rừng, thần núi, thần sông ơi! Mau mau về đuổi con ma rừng ra khỏi người bộ đội Việt Nam đi. Bộ đội Việt Nam sang đây giúp người Lào đánh giặc giành tự do độc lập, không có tội chi hết. Ơi Giàng ơi! Ơi thần rừng, thần núi, thần sông ơi!... Bộ đội Việt Nam ơi! Thần rừng, thần núi, thần sông của người Lào đang về giúp anh đó. Mau tỉnh lại đi. Ôi bộ đội Việt Nam ơi!

(Hứa vẫn nằm yên bất động. Già bản đốt một lá bùa mê hòa vào bát nước. Mấy thanh niên cúi xuống đỡ Hứa dậy đổ nước cho anh. Hứa vẫn bất tỉnh nhân sự)

Già làng:

(Đi quanh vung muối gạo, rót rượu xuống đất vừa đi vừa khóc)

Ơi Giàng ơi! Ơi thần rừng, thần núi, thần sông ơi! Tất cả về đây nhận xôi, thịt… khẩu niêu, rượu, muối của bộ đội đi. Nhận xong hãy đuổi con ma trong người bộ đội ra. Ơi thần rừng, thần núi, thần sông ơi!

(Một lúc sau, dừng lại quỳ xuống áp tay vào người Hứa. Rồi uể oải ngửng lên)

Chắc thần rừng, thần núi, thần sông không kịp về. Nó chết thôi! Không còn cử động được nữa rồi.

Nết: (Hoảng hốt)

Phải làm sao đây hở già? Làm sao bây giờ ông ơi! Con thương bộ đội Việt Nam quá.

Già bản: (Cúi xuống rầu rầu)

Chắc là con ma rừng này to quá. Trước sau nó cũng chết thôi. Lo đám ma cho nó vậy.

Nết:

Sao không đưa bộ đội về bản chăm sóc, làm lễ cúng con ma mà để bộ đội nằm đây? Con thương bộ đội quá già bản ơi!

 Già bản:

       Ta cũng thương bộ đội Việt Nam lắm chứ. Tháng năm ở trong rừng, đánh giặc giúp dân Lào. Đến khi chết cũng không có cái nhà để làm ma (Dừng lại trầm ngâm, nuốt nước bọt, nghẹn ngào). Nhưng… phong tục người Lào không cho con ma lạ vô bản. Nếu điều ấy xảy ra thì phải bỏ bản mà đi tìm đất mới đó. Thôi ta khiêng bộ đội về, dựng một cái chòi ở bìa rừng, cho anh ta ở đó, nếu bộ đội chết, ta làm ma cho nó (Ngửa cổ than vãn) Giàng ơi! Con có lỗi với người Việt Nam rồi. Con có lỗi rồi… Giàng ơi. Giàng ơi! Hãy bắt con đi, để bộ đội Việt Nam được sống.

Nết:

 Bây giờ tính sao hở già?

Già bản:

Thôi! Lo đám ma cho nó thôi! (Ngoảnh sang hai thanh niên) Mau lên! Bộ đội Việt sống giúp ta đánh giặc, hy sinh thì phải lo đám ma cho bộ đội thôi!

Thanh niên:

Dạ…dạ thưa già…làm ma cho bộ đội theo cách của người Việt… hay hỏa táng như người Lào ta ạ?

 Già bản:

        Bộ đội Việt Nam thì làm ma theo cách của người Việt (Úp mặt vào hai lòng bàn tay khóc. Chợt nhớ ra điều gì dừng lại, ngửng lên) Ơ.. mà khoan! Để con Nết biết cái chữ Việt, nó tìm xem có cái gì ghi tên tuổi, quê hương của bộ đội không?

Nết:

(Nước mắt dàn dụa, cúi xuống lục ba lô, lấy ra một quyển sổ, cái ví đưa lên lẩm bẩm:)

Anh ấy tên làNguyễn Thành Hứa: Đơn vị 470, Hà Nam… già ạ …

Già bản:

Nguyễn Thành Hứa - Hà Namà? Vậy là quê anh ấy ở xa lắm. Thôi cất đi. Sau này có ai tìm thì chỉ cho họ, để họ đưa bộ đội về với quê nhà.

Nết:

(Cất tất cả vào gùi. Mấy thanh niên đưa Hứa lên cáng, khiêng ra sau sân khấu. Tiếng đào đất vang lên thình thịch. Nết cúi xuống nhặt súng, bi đông nước, lững thững bước ra. Chợt nhớ ra điều gì, dừng lại, chạy đến bên già làng hổn hển)

- Khoan…khoan đã già bản ơi! Khoan!... Khoan làm ma cho bộ đội Việt Nam đã già bản ơi!…

Già bản:  

Gì thế, sợ à? Bộ đội chưa chết mà? Có gì đâu mà sợ! Mà ma bộ đội Việt không hại người dân Lào đâu!

Nết:

Không! Không phải sợ. Mà…già bản ơi! Hình như bộ đội bị con sốt rét làm cho mê man đó. Chưa chết đâu! Không phải là bị con ma rừng bắt đâu. Chưa… chưa chết đâu.

Già bản:

Con ma này to lắm, chờ trời tối là nó tới mang đi thôi mà. Bây giờ có cúng mấy trâu, mấy bò cũng vậy (Ngừng lại ngớ ra quay lại) Con… con mới nói là…sốt… sốt rét. Sốt rét là con ma như thế nào? Có to bằng con voi không? Có bắt nó ra khỏi người bộ đội được không?

Nết: (ngần ngừ)

Không! Con sốt rét nhỏ thôi, nhưng nó ác. Có thuốc chữa đấy già ạ! Hồi học ở Hà Nội, người ta bảo bộ đội Việt Nam đi rừng hay bị sốt rét lắm. Sốt rét tức là bị khầy nhung đó. Cái con khầy nhung là do muỗi đốt. Khi vô máu rồi, thì phải uống thuốc kí ninh mới khỏi, nếu không thì chết đó mà. Không cúng được đâu. Phải cho uống kí ninh thôi già ơi. Khoan làm ma đã. Để con tìm ký ninh cho uống…

Già bản:

Vậy… vậy hả? Có thuốc để bắt con sốt rét ra khỏi người bộ đội được sao?

Nết: (Ngần ngừ)

Hình như là… còn… nhưng ít lắm. Dạo trước, con mang ở Việt Nam về, cất trong ống bương, để đâu đó không nhớ nữa. Già có thấy con cất nó ở đâu không?

 Già bản: (lắc đầu)

 Cháu đã cất dấu thì làm sao ta biết được! Hỏi mẹ con coi thử, nó hay cất giúp ta nhiều vật quý lắm đó.

Nết:

Dạ để cháu về tìm lại có còn không… Chắc là me con cất đâu đó.

Già bản:

Ừ vậy thì về tìm lại thử coi, nhanh lên…. May ra cứu được bộ đội Việt Nam. Nhanh lên nghe (Nết cúi đầu chạy nhanh ra cuối sân khấu. Tiếng đào đất thình thịch vọng vào)

Già bản: (quay ra phía cuối sân khấu)

Ơ… là khoan… khoan đào nữa đã nghe. Chờ con Nết về lấy cái thuốc đuổi con ma sốt rét cho bộ đội coi thử đã.

Thoong May:

Nọng Nết mà cũng biết làm thầy mo, biết bắt con ma nữa sao? Già bản mới dạy cho nó cách bắt con ma  à?

Già bản:

Không phải vậy. Nó học ở Việt Nam về, nó biết thuốc chữa cái bệnh mà. Người Việt không biết cúng ma, nhưng có nhiều thuốc chữa bệnh hay lắm. Mai mốt hết giặc, thanh niên Lào sang đó mà học cái thuốc về chữa bệnh cho dân bản.

 Thoong May:

Vậy thì cứ để bộ đội nằm chờ cái thuốc của nọng Nết (Ngồi xuống quấn thuốc hút)

Nết: (chạy tới hổn hển)

May! May quá!... Còn…còn già à. Me con cất ở trên bếp. Nhưng  thuốc để lâu rồi, không biết có chữa được cái bệnh nữa không? Cứ cho uống thử.

Thoong May:

Làm sao mà bộ đội uống được đây? Cái miệng có há ra nữa đâu?

Nết:

Các anh bóp nát thuốc ra, cho vào cái bi đông, đổ thêm ít nước, lắc lắc vài cái, cạy miệng dốc vào… là bộ đội uống được đó mà (Hai thanh niên hăm hở làm theo, rồi hồi hộp đứng chờ. Thoong May vứt cái bi đông ra xa)

Già bản: (cúi xuống nhặt cái bi đông)

Tất cả đứng đây, không được đi đâu hết đó. Thằng Thoong May đốt thêm lửa cho ấm bộ đội. Để tao xuống suối lấy thêm tý nước, nếu bộ tỉnh thì có mà uống… (Già bản đi ra, một lúc sau Hứa cựa quậy).

Hứa:

Trời! Sao nóng quá thế này? Khát… quá!Nước… nước… cho tôi xin hớp nướcnước. Nặm ôi nặm…

Thoong May:

A bộ đội tỉnh rồi. Ôi nọng Nết giỏi quá! Cháu gái của già bản giỏi quá! Bộ đội sống rồi! Già bản ơi! Bộ đội sống rồi. Giàng ơi! Khầy nhung bỏ chạy rồi. Bộ đội sống rồi già bản ơi! (Ôm nhau vui mừng).

Già bản:  (Từ dưới suối chạy lên)

Sao? Con khầy nhung bị cái thuốc của con Nết đuổi cho chạy rồi sao? Tốt! Tốt quá! Chốp lai! Mau mau đưa bộ độ về bản chăm sóc. Mai mốt khỏe, anh ấy về với đơn vị.

Nết: (Hăm hở)

Già ơi! Già cho con nuôi bộ đội Việt Nam nhé. Con biết cách nấu cháo - khẩu piệc của người Việt rồi mà (Tất cả khiêng Hứa ra, sân khấu vắng lặng)

 

MÀN 2

Nết: (vừa nhảy, vừa hát)

Ơi chàng trai đó ơi! Em không hát được bài lăm tơi… đêm nay dưới trăng sáng. Đôi ta biết nhau đây, nghe tiếng khèn em hát được bài ca lăm tơi…

Thoong May:

Ơ cái bụng của Nết hôm nay có chi vui mà cái miệng hát hay thế?

Nết:

Anh quên rồi sao? Hôm nay Già bản làm lễ nhận thêm người vào bản ta đó.

Thoong May:

Ai vậy?

Nết:

Bộ đội Hứa chớ ai. Ải Hứa đi tìm đơn vị, tìm quân PhaThẹt Lào. Hẹn hôm nay sẽ quay trở lại…

Thoong May:

Ôi thế sao? Tại con mắt tui thấy Nết, là cái đầu lại quên hết mọi chuyện. Ôi vui quá! Vậy là bản ta có thêm một người nữa rồi (dừng lại tiu nghỉu).  Nhưng… con trai của bản sắp bị mất Nết rồi.

Nết:

Tại cái bụng của Thoong May thương Nết, nhưng cái miệng không biết nói đó chớ.

Thoong May:

Ôi đau cái ngực, nhức cái đầu quá. Tui buồn quá rồi, ra bờ suối ngồi thôi.  Tại vì Nết là cháu gái của già bản mà. Cho nên con trai bản ai cũng ưng nhưng lại sợ. Cái miệng muốn nói nhưng cái bụng lại sợ già bản quở ấy mà.

May Try:  (Xuất hiện)

E hèm

Nết, Thoong May: (quay lại chắp tay chào)

Xam bai đi ông

May Try:

Xam bai đi! E hèm dù là cháu gái của tao, thì nó cũng phải có chồng chứ. Cái bụng chúng bay biết ưng, mà cái miệng không chịu nói ra, thì bây giờ nó thương bộ đội Hứa rồi, buồn cũng chịu. Từ nay bản có thêm người đánh giặc, làm rẫy. Hòa bình, bộ đội Hứa đưa nó về Việt Nam tìm lại quê cha nó (lắng xuống). Cha con Nết cũng là bộ đội Việt Nam mà.

Thoong May:

Nếu không tìm ra đơn vị, thì bộ đội Hứa mãi mãi ở lại bản ta hả già?

May Try:

Hôm nay không phải chỉ mỗi lễ nhận Thá hãn Hứa làm người bản đâu! Mà còn mừng cho Thá hãn thành Pha thẹt Lào nữa đó. Gần một năm nay, tao và con Nết dẫn bộ đội băng hết rừng này qua rừng khác, nhưng không tìm ra bộ đội Việt Nam. Trong lúc đó,  Phu mi giặc lại ruồng bố ráo riết, đành phải quay về thôi. Nay bộ đội Hứa đi tìm ra quân Pha thẹt Lào, để xin tham gia chiến đấu rồi. Không biết có gặp được họ hay không? Có lạc đường, gặp phu mi địch hay không mà chưa thấy về ?

Nết: (nhìn ra xa lo lắng. Bất chợt reo lên)

A… hình như là Hứa Việt đã về… kia kìa… đúng là ải Hứa rồi.

Thoong May:

Chỉ cần cái bóng của Hứa Việt thoáng qua, là con mắt của Nết nhận ra ngay. Tài thiệt.

Hứa: (Mặt lấm lem, khoác ba lô, áo quần xơ xác, xuất hiện, vẻ mệt mỏi)

Xam bai đi… xam bai đi! Chào già bản, chào tất cả anh em! Con đã về đây! Ôi mệt quá! Nọng Nết ơi! Cho xin ngụm nước, khát quá! (Bỏ ba lô xuống)

Thoong May:

A …xin chào ải - Xam bai đi ải!

Nết:

A… bộ đội Hứa về rồi! Ui… mừng quá! Lần này không bị con khầy nhung làm cho mệt nữa chớ? (Chạy vào cầm một ống bương nước nước ra)

Hứa: (Đưa ống bương lên uống ừng ực. Khà một tiếng thoải mái, quẹt tay ngang miệng, vuốt tóc nói)

Khợp chay nọng lai. Cảm ơn nọng nhiều. Hết rồi! Hết sốt từ lâu rồi. Uống cái ký ninh  của nọng vô là khầy nhung nó bỏ chạy luôn rồi (Cười)

Già bản May Try:  

- Thế nào? Có tìm ra đơn vị không? Hay là lại chuyển đi nơi khác nữa rồi?

Hứa: (Lắc đầu bất lực)

Buồn lắm già à. Khi tới được nơi đóng quân mới, thì đơn vị lại chuyển sang nơi khác xa hơn rồi. Con băng rừng đuổi theo, nhưng họ lại chuyển đi xa nữa rồi. Chỗ nào con cũng dò từng ngọn cỏ, bụi cây... nhưng giữa rừng núi Trường Sơn bạt ngàn, thì việc tìm ra dấu vết của bộ đội đâu phải dễ. Có lẽ còn lâu mới tìm ra quân tình nguyện Việt Nam đó.

Thoong May:

Vậy là bộ đội Hứa không tìm ra đơn vị của mình rồi. Ui buồn quá! Hay là họ đã về nước hết rồi? Thế bộ đội có gặp được quân Pha thẹt Lào không?

Hứa:

Trên đường quay về, con có gặp một đơn vị Pha thẹt Lào. Họ đồng ý cho con tham gia chiến đấu. Khi nào gặp lại quân tình nguyện Việt Nam thì sẽ về đơn vị cũ.

Già bản:

Ừ Đúng đó! Giặc khủng bố ráo riết quá, quân tình nguyện Việt Nam và quân Pathẹt Lào phải bí mật di chuyển, luôn luôn luồn lách để trách địch ấy mà (Ngẩm nghĩ) Ừ… mà tham gia quan Phathẹt Lào cũng tốt chứ sao. Hai dân tộc chung một kẻ thù mà.

Hứa:

          Dạ! Con cũng nghĩ như vậy.

Già bản:

Cái bụng già cũng muốn như vậy lắm (vẫy tay thân mật). Lại đây. Từ hôm nay, con là người bản ta rồi. Lâu lâu con phải ghé về thăm bản đó. Ta muốn con làm cháu rể của ta… không biết có ưng cái bụng không? Ta, dân bản, con Nết đang chờ con về để làm lễ xin Giàng cho hai con thành chồng thành vợ đó.

Hứa:

Con xin cảm ơn già, Khọp chay dân bản đã cứu và giúp đỡ con trong thời gian qua… Nhưng…

Thoong May:

Nhưng gì… bộ đội nhưng là không hiểu cái bụng của nọng Nết rồi. Nó đuổi con khầy nhung trong người bộ đội, nấu cháo - khẩu piệc cho bộ đội ăn… nó thương bộ đội lắm mà. Bộ đội nói thế không sợ cái bụng của già May Try và dân bản buồn sao?

Hứa:

Tôi mang ơn của nọng Nết, già May Try và dân bản nhiều lắm. Đời này, kiếp này, không biết lấy gì để đền đáp công ơn của bà con cả. Nhưng để thành vợ, thành chồng với nọng Nết thì quả là con chưa dám nghĩ tới.

Già bản:

 Ôi! Bộ đội sang đây giúp người Lào ta đánh giặc. Bị ốm đau, hoạn nạn…Dân bản phải giúp lại thôi. Có gì mà cảm ơn! Nay dân bản lại muốn bộ đội thành con của bản luôn. Không biết vì sao cái bụng của bộ đội chưa ưng ? Hay bộ đội chê cái bụng của người Lào ta xấu?

Hứa:

Dạ…dạ… không có…đồng bào Lào, dân bản ta tốt lắm ạ. Nhưng nhưng con lo là…

Thanh niên:

Có gì đâu mà phải lo. Cái bụng Nọng Nết đã ưng, cả bản ai cũng ưng. Bộ đội mà lấy nó làm vợ, thì tình Việt Lào càng thắm đượm chớ sao. Chắc là bộ đội chê cái bụng của người bản ta không tốt rồi?

Hứa: (Giãy nãy)

Không… Không phải… con hiểu tấm lòng của dân bản giành cho con. Nhưng… nhưng… thưa già… con…con

May Try:

Nếu cái bụng của bộ đội không thương con Nết, thì dân bản buồn lắm đó. Ngày nào nó cũng lo cho bộ đội. Cái bụng của nó không nhớ ai ngoài bộ đội nữa đâu.

Hứa:

Khợp chay già bản. Khợp chay tấm lòng của bà con… con rất vui. Thực lòng con cũng thương nọng Nết lắm. Nhưng không biết cái miệng nói ra, có đúng như cái bụng của Nết nghĩ không? Sợ già và dân bản lại giận đó mà.

Thoong May: (Hoan hỉ)

Vậy là ổn! Ôi… Giàng ơi! Bộ đội cứ làm cho nó một cái rẫy thiệt to. Bắt nó đẻ ra nhiều bộ đội con, là nó vui rồi. Nó vui là cái bản này vui đó.

Nết: (Lườm Thông May một cái)

Ải Thoong May thật là… (kéo Hứa đi). Thôi ải ơi! Ải vô xem cái nhà trai bản mới dựng cho, có ưng cái bụng không (Hứa và Nết bước ra).

 Già May Try: (bước ra)

Trai bản đâu! Nổi cồng chiêng, đốt lửa lên. Thịt cho nhiều con lợn, con gà vào. Nấu thêm nhiều khẩu niêu… đưa tất cả pa dẹt, lẫu púc ra đây, để mừng nọng Nết và bộ đội Hứa thành vợ thành chồng. Mừng bản ta có thêm một người con tham gia quân Pha thẹt.

 

MÀN 3

(Tại hội trường của một cơ quan hành chính Việt Nam. Mọi người tất bật chạy lui chạy tới chuẩn hoa trải khăn bàn. Chính giữa hội trường, trang trí câu khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng đoàn cựu chiến binh, phụ nữ Lào”.

Đức bước tới, ông chấp tay sau lưng, chăm chú ngắm nghía từng chi tiết một. Ông nghiêng ngó xem hoa, phông màn, cầm bài phát biểu lên đọc lại lần cuối.)

Đồng: (hớt hải chạy tới)

Anh Đức ! Anh Đức đâu rồi! Anh Đức ơi! Cho em hỏi: người Lào có những nghi thức giao tiếp gì khác biệt, anh nói để bọn em biết với. Kẻo lỡ ra…thì nguy (Đưa lên một tờ giấy A4 ra, kéo Đức lại gần nói khẽ) Mà sao trong danh sách này, không có thành phần phiên dịch nhỉ?

Đức:

Cậu yên chí! Thành phần đoàn toàn là những cựu binh, cán bộ đã được đào tạo tại Việt Nam, họ biết phong cách và thạo tiếng Việt lắm. Với lại tớ cũng đã chiến đấu trên đất Lào lâu năm, không cần phiên dịch đâu. Lào Việt là anh em một nhà mà.

Đồng: (Thở phào)

Vậy mà hôm qua tới giờ, em cứ áy náy là nếu không có phiên dịch… thì… thì liệu hai đoàn có nhìn nhau cười rồi về không?

Đức:

Cái cậu này! Đúng là… À mà này công tác đón tiếp tới đâu rồi? Đoàn qua cửa khẩu rồi đó.

Đồng:

Sao nhanh vậy anh?

Đức:

Thì đường rộng bóng như mặt gương vậy, xe thì toàn xe tốt, công tác thông quan nhanh…thì từ Lào qua ta mấy tý. Này! Mà cậu kiểm tra lại một lần chót công tác hậu cần đi. Rà soát kỹ từng hạng mục, đừng sơ suất… nhất là thực đơn bữa cơm ngoại giao đó. Nhất thiết phải đúng nghi thức, khẩu vị của người Lào đó.

Đồng:

Dạ! Hôm bữa anh bảo: “Với người Lào, ta đãi họ hải sản”. Em đã dặn nhà hàng chuẩn bị thật nhiều hải sản, có kèm thêm vài món thịt trâu nữa đó.

Đức:

Ờ. Như vậy là ổn. Còn chương trình văn nghệ?

Đồng:

Dạ! Đã chọn những bài ca truyền thống ca ngợi tình hữu nghị Việt - Lào.

Đức: (cầm tờ giấy lên săm soi)

Thành phần đoàn bữa nay có hai người gốc Việt đó.

Lan:

 Sao chú biết?

Đức:

Thì đây! Người Lào làm gì họ này?

Lan:

A là thế (Lấc láo nghiêng ngó ra ngoài) Hình như… hình như có xe ai mới đến… không nhẽ họ đến sớm thế sao? Để cháu ra coi thử (bước gấp ra ngoài, một thoáng bước gấp vào). Báo cáo chú… dạ báo cáo thủ trưởng… đoàn Lào đã đến rồi ạ! Mời mọi người cùng ra mau.

(Mọi người đứng dậy, xếp hàng dọc, Đức và Đồng bước đi trước. Một đoàn người Lào bước vào)

Đức: (Chắp tay trước ngực hồ hởi)

Ô! Xam bai đi! Xam bai đi ải. Xam bai đi phì nọng. Xam bai. Xam bai! Xin chào người anh em Lào. Xin chào các đồng chí!

Đồng, Lan, mọi người (bối rối làm theo)

Hứa:

(Mang trang phục quân đội Lào, đeo quân hàm đại tá, khập khiễng bước tới, chắp tay chào theo kiểu Lào xong đột ngột chào theo kiểu quân đội Việt Nam, cuối cùng chìa tay ra bắt)

Xam bai - Xin chào các đồng chí, các bạn Việt Nam.

Đức: (Lúng túng, nhưng cũng vội chào lại theo lễ nghi quân đội. Vội thò tay ra, nắm chặt lấy tay Hứa)

Chúng tôi rất vui mừng được đón tiếp các đồng chí ở nước bạn Lào anh em sang thăm (ngó quanh ngó quất). Ủa? Thành phần đoàn có cả phụ nữ, sao bây giờ lại thấy toàn là nam thế này? (bồn chồn ngó lui ngó tới)

Hứa:

- Ô!.. Là phụ nữ đi xe sau. Tất cả còn ghé chợ mua quà. Hơn nữa, vợ tôi phải đến trường chính trị, thăm con gái đang học ở đó. Sẽ ghé ngay bây giờ.

Lan:

Dạ! Mời tất cả các đại biểu, đồng chí theo tôi đến lễ tân để nhận phòng nghỉ. Sau đó trở lại hội trường chúng ta làm lễ tọa đàm ạ.

Đức:

Sơn Phì nọng… ma ni…

Hứa:

 Thôi thôi… anh không cần dịch, chúng tôi thạo tiếng Việt còn hơn cả tiếng Lào nữa đó (Cười! Tất cả đi theo Lan vào sau sân khấu. Riêng Đức và Hứa đứng lại ngơ ngác  nhìn nhau).

Đức:  (Tần ngần)

Sao đồng chí lại nói giọng Bắc nhỉ? Tôi thấy đồng chí có vẻ quen quen? Hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu rồi thì phải?

Hứa:

 Tôi cũng có cảm giác như vậy (Dừng lại ngó kỹ hơn chợt sung sướng vồn vã reo lên) Có phải anh… đồng chí… là… là đồng chí Đức đại đội trưởng, đại đội 470 không?

Đức:  

Đúng! Tôi đã từng tham gia chiến đấu trên đất Lào từ năm 1973 trở về trước.

Hứa:

(Reo lên ôm chầm lấy Đức)

Ô vậy là đúng rồi! Không ngờ hôm nay tôi lại tìm được đồng đội! Đồng chí…à anh… anh không nhận ra tôi ư? Tôi là Hứa. Nguyễn Thanh Hứa chính viên đây mà.

Đức:

Ôi! Thế sao? Là Hứa thật sao? Cậu còn sống ư? Sao hồi ấy đơn vị cho chờ mãi mà không thấy cậu quay trở lại. Tưởng là đồng chí đã mất tích, hay bị cọp vồ, hoặc sa vào ổ phục kích địch rồi! Mà… mà sao bây giờ lại đeo quân hàm đại tá Lào

Hứa:

Chuyện dài lắm, để tôi kể anh nghe sau. Bây giờ ta vào kẻo anh em chờ lâu.

 

MÀN 4

(Tại một hang đá, giữa cánh rừng rậm trên đất bạn Lào. Có vài cái tăng che mưa treo lỏng thỏng. Ngoài cửa hang, vài chiến sĩ đang đung đưa trên võng. Một cái chõng tre dùng làm bàn làm việc. Đức mang trang phục bộ đội, cúi đầu vẻ suy tư, bồn chồn đi lại. Hứa và vài người nữa ngồi trên những chiếc ghế làm bằng thân cây xếp quanh “bàn”. Một tấm bản đồ lớn treo trên tường. Cuối hang, một chiến sĩ thông tin đang loay hoay sửa chiếc máy thông tin 15 Woat)

Thông tin:

Báo cáo thủ trưởng máy thông tin không thể khắc phục được. Chúng ta mất hẳn liên lạc với Trung đoàn rồi.

Đức: (Dừng lại bên bản đồ chống nạnh nói)

Nhiệm vụ chúng ta là nghi binh, cầm chân địch ở đây, để trên có cơ hội mở chiến dịch lớn ở phía Nam. Nhưng trên đã không lường hết những khó khăn và có phương án hỗ trợ kịp thời (Cúi đầu xuống suy nghĩ, ngừng một lát rồi ngửng lên cầm gậy chỉ vào tấm bản đồ treo trên vách đá).

Đây là con sông... mới đầu mùa mưa mà lũ đã bít hết đường rút quân. Mọi liên lạc với Trung đoàn cũng tắt ngấm. Nếu ta chờ thêm 4 tháng nữa hết mùa mưa, thì có thể rút lui được. Nhưng sợ rằng chỉ tháng nữa thôi là lương thực hết sạch. Còn trước mắt ta thì có những hai tiểu đoàn địch án ngữ. Chúng phong tỏa tất cả những gò đất, con đường khô ráo có thể trú chân, hành quân được. Đúng là tiến thoái đều lưỡng nan. Nếu đem một đại đội ra chọi với hai tiểu đoàn địch để phá vây, thì chẳng khác nào lao vào chỗ chết. Nếu vượt sông quay về, chắc chắn sẽ không một ai thoát khỏi dòng nước hung hãn kia.

(Đấm mạnh xuống mặt bàn làm cái bát nẩy lên) Quân Pha thẹt Lào thì ở đâu chả biết. Làm sao liên lạc với họ, để phối hợp tháo vòng vây? Với đà này, địch không cần đánh, đợi đến hết mùa mưa là chúng ta thành những cái xác vô hồn. Thật là khỉ gió. Đúng là một sai lầm nghiêm trọng chưa từng có. Ai? Ai có phương án gì không?

Tất cả (Im lặng)

Kiên đại đội phó:

Tôi đề xuất phương án là: Trong lúc quân sĩ ta đang no, khỏe, địch đang chủ quan, chúng ta bí mật áp sát vào một điểm nào đó yếu nhất của địch đánh nhanh, gọn tháo vòng vây ra ngoài. Quân Pha thẹt ở đâu đó trong rừng, nghe tiếng súng sẽ đến ứng cứu chúng ta.

Đức:

Đó cũng là phương án hay. Nhưng nếu địch không chủ quan. Quân Pha thẹt đang ở xa, hoặc do đường sá bị lũ chia cắt không đến kịp thì sao?

Kiên: (im lặng)

Hứa:

Thì lúc ấy chúng ta bị lộ mục tiêu và kẻ địch sẽ tập trung hỏa lực tiêu diệt ta trong vòng vài ngày.

Tôi có ý kiến: Ta nên cho vài trinh sát luồn qua vòng vây địch, tìm quân Pha thẹt Lào, nhờ họ đến đánh từ bên ngoài vào, chúng ta ở trong đánh ra theo thế trận nở hoa. Thế nào cũng phá được vòng vây.

Đức: (ngẩng lên nhìn Hứa thăm dò)

Đồng chí có thể lên đây trình bày chi tiết hơn được không?

Hứa:

Báo cáo được ạ! (Hứa bước đến gần tấm bản đồ cầm gậy từ tay Đức trao)

Thứ nhất hiện tại địch chưa rõ quân số của ta là bao nhiêu, có những loại vũ khí gì? Nên chúng ngần ngừ chưa dám đánh.

Thứ hai dù biết rõ. Chúng cũng chả liều mạng xông vào đây giao đấu với ta đâu. Chúng hy vọng cứ bao vây như vậy, mùa mưa đất Lào sẽ làm tan rã chúng ta.

Thứ ba là chúng cũng không rõ ta đang ở góc nào trong cánh rừng đại ngàn này. Bởi nếu biết, chúng đã cho máy bay oanh tạc nát nhừ rồi.

Thứ tư là ngay bây giờ chúng ta phải tăng cường kiếm thêm rau, củ, quả rừng để bổ sung vào suất ăn hàng ngày. Giảm suất ăn hàng ngày xuống bằng 1/3 suốt ăn bình thường. Như vậy ta có thể duy trì cầm cự được hết 4 tháng. Đến mùa khô, ta phá vòng vây, rút về bên kia sông.

Đức:  

Tôi tán thành phương án của đồng chí chính trị viên. Nhưng khó khăn nhất là sẽ tìm ra người vừa giỏi tiếng Lào, vừa thạo mọi địa hình, biết dân vận, có kinh nghiệm trận mạc. Để vượt vòng vây địch, tìm đến quân Pha thẹt Lào, theo đồng chí nên cử ai sẽ là người thích hợp?

(Tất cả nhìn nhau lo lắng)

Hứa:

Trong ban chỉ huy, chỉ có tôi và đồng chí Đức là người chiến đấu lâu năm ở Lào. Nếu ta cử các chiến sĩ trẻ, họ không sa vào tay giặc, hoặc lạc đường, cũng không biết tiếng Lào mà giao dịch. Đồng chí Đức là chỉ huy, đơn vị không thể thiếu anh một ngày. Nhiệm vụ này ngoài tôi ra khó ai có thể hoàn thành. Vậy tôi xung phong đi.

Đức: (Ngần ngừ e ngại)

Được! Nhưng đồng chí nên lấy thêm hai người nữa cùng đi. Nếu trong vòng 60 ngày, mà chưa có tín hiệu thì chúng tôi tính theo phương án 2. Tức là phá vòng vây vượt sông về địa điểm tập kết.

Hứa:

Đó là phương án liều lĩnh. Tôi phản đối. Đề nghị nếu chưa hết mùa lũ, chưa bị lộ, hoặc quân Pha thẹt chưa tới, cần nằm im để bảo toàn lực lượng. Chuyến đi này rất mạo hiểm, nên tôi sẽ đi một mình. Nếu lỡ sa vào ổ phục kích thì đỡ thiệt hại cho quân số đơn vị.

Đức:

Được! Anh cứ chuẩn bị hành trang lên đường đi. Ở nhà chúng tôi sẽ tùy cơ ứng biến. Tất cả giải tán.

 

MÀN 5

(Quay lại cảnh tại hội trường. Đức, Hứa và vài người nữa ngồi bên bàn nói chuyện)

Hứa:

Thế nhưng khi vượt vòng vây địch thì quá dễ dàng. Nhưng căn bệnh sốt rét đã không cho tôi hoàn thành nhiệm vụ. May gặp được dân bản, tôi mới sống đến ngày hôm nay. Sau 2 tháng rưỡi, tôi mới hồi sức và đi tìm quân Pha thẹt Lào. Nhưng họ cũng nấp kín, chờ cơ hội như ta. Đến khi họ mở chiến dịch, tôi mới lần theo tiếng súng ra mặt trận, tìm được quân Pha thẹt Lào, thì nghe đâu các anh đã phá vòng vây vượt về bên kia sông rồi.

Đức:  (Ngậm ngùi chua xót)

Trong vấn đề này tôi là người có lỗi. Giá như hồi đó tôi không cho anh đi thì… có lẽ đã không xảy ra nông nỗi này. Giá như tôi đủ bản lĩnh chờ đợi như kế hoạch của anh, thì đơn vị đã không thiệt hại đến như vậy. Khi phá vây vượt sông, chúng tôi đã mất gần 30 chiến sĩ. Thật là đau buồn, khủng khiếp.

(Dừng lại ghé sát hỏi) À mà sao hôm nay anh là đại tá quân đội Lào? Sao đất nước hòa bình đã lâu mà anh không tìm về với đồng đội, quê hương?

Hứa:

Tôi đã tham gia quân Pha thẹt Lào. Họ đã coi tôi như một sĩ quan và cử tôi làm đại đội trưởng. Ròng rã hết chiến trường này đến chiến trường khác… bị thương nằm viện, tiếp tục chiến đấu. Không một chút thời gian nghĩ đến chuyện tìm về với đồng đội nữa. Sau hòa bình, tôi được bổ nhiệm làm phó bí thư của tỉnh. Công việc bù đầu. Mấy lần trở về Việt Nam định làm lại hồ sơ lý lịch, xác nhận mình là người Việt Nam. Nhưng các cán bộ trẻ lại bảo: “Phải có đơn vị cũ xác minh bác chính là bác. Rồi ra quyết định hủy tên trong danh sách những liệt sĩ. Như vậy là đồng nghĩa với những thành tích trong thời gian qua cũng phải đi xác minh lại. Rắc rối, rất rắc rối… (Dừng lại nuốt nghẹn)

Do tôi đang đảm nhiệm vị trí quan trọng bên nước bạn, nên phải quay về Lào, lao vào công việc, mà quên mất mình là người Lào hay người Việt. Hôm nay, tôi muốn anh xác minh giúp, để tôi được trở lại người Việt Nam như xưa. Tôi ao ước được sống trong lòng của Tổ quốc, đồng bào, đồng chí mình.

Đức:

Theo tôi, anh cứ yên tâm hoàn thành nhiệm vụ bạn giao. Khi về hưu rồi hẵng tính chuyện là nên về Việt Nam, hay ở lại Lào - Tổ quốc thứ hai của anh (Lấy hơi nuốt nghẹn) Ừ hèm! Bây giờ, tôi sẵn sàng xác minh cho anh, nhưng chắc là khó lắm. Bởi thủ tục còn nhiêu khê rườm rà lắm, không đơn giản như nói đâu.

Hứa:

Nhưng… nhưng tôi là người đang mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, ra đi theo tiếng gọi của non sông. Không lẽ…hôm nay hòa bình đã lâu, mà chỉ có một ước nguyện nho nhỏ là về với Tổ quốc non sông lại khó thế ư?

Đức:  (Trầm tư chậm rãi)

Tôi nghĩ là anh nên vui thì đúng hơn. Bởi anh đang là con của hai Tổ quốc (Ngừng lại chậm rãi) Với Việt Nam, anh đã được vinh danh là liệt sĩ, được nhân dân tôn quý. Dịp 27-7 hoặc lễ, tết… các phương tiện truyền thông lại nhắc đến… Còn với người Lào, anh đương nhiên là một cựu sĩ quan, nhiều thành tích trong chiến đấu. Nay là một phó bí thư tỉnh ủy… được nhân dân bạn tín nhiệm.

Hứa: (Cười như mếu)

Trớ trêu thay, với Tổ quốc, đồng bào, đồng chí mình… thì tôi là một liệt sĩ! Còn với nhân dân, đất nước Lào, thì tôi vẫn là người bằng thịt, bằng xương hẳn hoi và đang được (kéo dài giọng) tín nhiệm!

Đức:

Quả là đúng như vậy! Cho nên…(Có tiếng lao xao ngừng lại ngó ra)

Hà Mi cùng một đoàn thanh niên, Nết vào (Tất cả cùng chào)

Xam bai đi. Xam bai mạc ngan. Xin chào tất cả các đồng chi lãnh đạo! Xin chào tất cả anh em, xin chào bà con.

Hà My: (chạy đến bên Hứa)

Ba ơi! Ba sang thăm Việt Nam, mà không ghé trường, để cho con cùng đi. May mà có xe của mẹ, không thì bọn con phải đi bộ đó.

Hứa:

Ôi phù sao - con gái của ba! Sao con lại ở đây? Hôm nay con cũng có nhiệm vụ đây sao?

Hà My:

Con được ban tuyên giáo tỉnh mời tham gia chương trình giao lưu văn nghệ hữu nghị Lào - Việt mà.

Hứa:

Thế à! Thế mà bây giờ ba mới biết là đêm nay con gái ba được lên sóng truyền hình trực tiếp đó.

Long:

 Dạ con xin chào các bác, các cô ạ! (quay về phía Đức) con chào ba!

Đức:

Con cũng sang đó à? (Kéo Long và Hà My lại gần hãnh diện nói) Đây là Long con trai tôi, còn đây là Hà Mi là bạn gái của cháu. Hai đứa yêu nhau đã lâu, chờ Hà Mi tốt nghiệp, chúng tôi sẽ làm lễ cưới cho cháu (Tất cả vỗ tay hoan hô)

Lan:

Ồ! Một đám cưới Lào - Việt vui lắm đây…

Đức:

Thôi! Mời tất cả cùng ngồi, ta thảo luận cụ thể từng vấn đề rồi giao lưu văn nghệ.

(Tất cả ngồi ngay ngắn, Đức đứng lên trang nghiêm nói) E hèm! Hôm nay đoàn cựu chiến binh, phụ nữ nước bạn Lào sang thăm hữu nghị, giao lưu văn nghệ với tỉnh ta. Nhân đây, đoàn cũng trao cho ta hồ sơ sơ đồ những liệt sĩ đang ở trên đất bạn. Thay mặt nhân dân, thường vụ tỉnh… tôi xin cảm ơn lòng nhiệt tình của anh em Lào…

Trong niềm vui chung, vẫn có nỗi buồn riêng (Ngừng lại chấm nước mắt sụt sùi.)

Hứa: (Ngước lên)

Xin lỗi đồng chí Đức. Xin lỗi các đồng chí… Đó là vấn đề riêng của tôi. Một người con của Việt Nam. Đã được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội rèn luyện, đào tạo… Nhưng hôm nay… tôi về nước với tư cách là một người khách của đồng bào, đồng chí mình. Nhưng… đó là hoàn cảnh do lịch sử. Thôi! Vấn đề đó chúng ta sẽ trao đổi vào một dịp khác. Bây giờ cần tập trung vào bàn bạc các phương án tìm kiếm, cất bốc, di dời hài cốt liệt sĩ…

Đức:

Không! Xin lỗi đồng chí Hứa. Vấn đề tôi muốn đề cập không phải là vấn đề đó. Tôi muốn nói là gia đình tôi, cũng có một người con… đã chiến đấu và hy sinh trên đất Lào. Bố mẹ tôi từng có một ước nguyện là đưa hài cốt của anh ấy về nước. Nhưng vì hồi đó tình hình chưa cho phép. Cách đây không lâu, chúng tôi nghe thông báo là bạn đã quy hoạch mộ của anh ấy vào nghĩa trang của tỉnh. Nhưng hôm nay không thấy có tên trong danh sách này? Mong các đồng chí về xem xét lại giúp.

Hứa:

Đồng chí ghi rõ tên họ, quê quán, đơn vị, địa điểm, ngày hy sinh của liệt sĩ đó, tôi sẽ nhờ các cựu chiến binh Lào giúp đỡ.

Đức:

(Rút tờ giấy A4, hí hoáy ghi vào đó rồi giao cô thư ký đưa cho Hứa) Vâng nhờ đồng chí giúp đỡ.

Hứa: (Cầm tờ giấy đọc rồi đưa cho Nết cả hai tròn mắt ngạc nhiên.)

Sao lại thế này? Sao lại có chuyện này được. Thật là lạ đời!

 Nết: (Ôm ngực khóc rưng rức)

Pho ơi! Giàng ơi! Con đã tìm ra được quê cha rồi! (Mọi người há hốc ngạc nhiên)

Đức:

Sao thế? Có vấn đề gì không phải ạ?

Hứa: (bước tới, nước mắt dàn dụa nói)

Xin lỗi anh Đức, xin lỗi tất cả các đồng chí. Sở dĩ chúng tôi không đưa ngôi mộ đó vào danh sách cần di dời về Việt  Nam. Là… bởi… vì…đó là cụ thân sinh của nhà tôi. Chính là cô Nết đang đứng kia.

Đồng:

Trời đất! Hóa ra chúng ta là anh em một nhà cả (ngoảnh lại Đức). Anh Đức… hãy đến nhận đứa cháu ruột của mình đi.

Đức: (lúng túng)

Sao? Anh tôi có một đứa con ở Lào sao? Ôi thế thì phúc đức quá Giàng ơi! Nết lại đây với chú đi cháu…

Long:

Ba! Sao lại có chuyện lạ đời như thế được?

Hà My:

Có đúng là như vậy không ba?

Hứa:

Chính xác! Việt - Lào là hai dân tộc chung một dãi Trường Sơn hùng vĩ, cùng uống nước những dòng sông trước khi ra biển cả. Từ trước tới nay và mãi về sau, chúng ta vẫn là anh em một nhà.

                                                                                        20/6/2015