Lịch sử Việt Nam qua nhãn quan và luận giải của Yveline Feray

                                                                            NGUYỄN VĂN HÙNG

 

Lịch sử Việt Nam từng được khảo cứu, đánh giá qua con mắt của người nước ngoài với nhiều công trình biên khảo, nghiên cứu tâm huyết và có giá trị. Nhưng lịch sử Việt Nam trở thành nguồn cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả nước ngoài là không nhiều. Bên cạnh những dấu ấn trong lĩnh vực điện ảnh (phần lớn lấy đề tài từ các cuộc chiến tranh ở Việt Nam), văn học cũng ghi nhận những thành tựu không nhỏ của các tác giả nước ngoài viết về lịch sử và con người Việt Nam. Qua những tác phẩm ít ỏi đó, bên cạnh sự biểu hiện nồng nàn của tình cảm, minh chứng cho quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa quốc tế, chúng ta còn bắt gặp cái nhìn, cách nhìn sinh động, thú vị, nhiều chiều đối với các vấn đề về lịch sử, văn hóa, con người Việt trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Với việc tự do sáng tác cùng với tinh thần dân chủ được khuyến khích mở rộng, lĩnh vực đề tài lịch sử như được hồi sinh và trở thành một trong những đề tài chủ chốt được nhiều nhà văn quan tâm chú ý. Cho đến nay, nhiều tác phẩm không chỉ mang lại những giải thưởng cao quí cho nhà văn mà còn trở thành món ăn tinh thần độc đáo, thú vị thu hút sự quan tâm, bàn luận của độc giả. Văn xuôi hư cấu lịch sử đã trở thành một trong số ít ỏi những thể loại để lại nhiều dấu ấn và thành tựu quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam đương đại. Nó nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng bằng những tác phẩm đặc sắc, khẳng định giá trị bằng nhiều giải thưởng văn học uy tín thường niên và khuấy động dư luận qua những cuộc tranh luận nảy lửa.

Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Yveline Feray cùng hai tiểu thuyết lịch sử Vạn Xuân (Dix Mille Printemps) và Lãn Ông (Monsieur le Paresseux) có một vị trí và ý nghĩa quan trọng. Tác phẩm không chỉ gây sửng sốt xen lẫn sự khâm phục nơi độc giả bởi dung lượng lớn (Vạn Xuân dung lượng gần 1000 trang), thời điểm lịch sử được lựa chọn tái hiện khá xa hiện tại (thế kỉ XIV-XV trong Vạn Xuân, thế kỉ XVIII trong Lãn Ông), mà còn đem lại sự hứng thú, tò mò bởi đây là những trang sử Việt được hình dung, thiết kế, phục dựng trong con mắt của một nữ văn sĩ nước ngoài khác biệt về địa - văn hóa, địa - chính trị. Tìm hiểu cảm thức lịch sử cũng như nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Y. Feray sẽ giúp chúng ta thêm một góc nhìn khác về lịch sử Việt Nam. Qua đó bàn góp tiếng nói đối thoại về những vấn đề đang gây tranh cãi xoay quanh văn xuôi hư cấu lịch sử.

 

nhavanphap2017

Nhà văn Pháp Yveline Feray - Ảnh: Nguồn Tuoitre.vn

 

vanxuan2017 lanong2017

Hai tiểu thuyết "Vạn Xuân" và "Lãn Ông" của Yveline Feray đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam

 

Đối thoại với nhãn quan/diễn ngôn phương Tây về phương Đông/Việt Nam

Đã từ lâu, phương Đông là một đề tài hấp dẫn đối với văn học phương Tây bởi nó ẩn chứa một thế giới huyền bí, kì lạ, thôi thúc tính hiếu kì, ưa phiêu lưu, khám phá trong tính cách người phương Tây. Thế kỉ XIX ở Pháp đã hình thành nên dòng văn học hương xa (exotisme) với tinh thần cơ bản là đi tìm “cái khác lạ” ở thế giới bên ngoài. Phương Đông trở thành nguồn dưỡng chất màu mỡ cho những sáng tạo văn chương của nhiều tác giả phương Tây. Theo quan điểm của Victor Segalen (1878 - 1921), nhà thơ và nhà văn lớn nước Pháp, phương Đông được các tác giả phương Tây tiếp cận, khám phá ở hai góc độ: không gian và thời gian. Về giá trị không gian, phương Tây xem phương Đông như một vùng đất mới cần được khai phá, mở mang. Về giá trị thời gian, phương Tây bày tỏ sự ngưỡng mộ và luyến tiếc với một thế giới phương Đông cổ điển đã bị chôn vùi trong quá khứ. Vì vậy nhiều nhà văn đã tìm về suối nguồn văn hóa phương Đông qua những truyện kể dân gian, những truyền thuyết xa xưa, những câu chuyện kì dị, ma quái như một nỗ lực “kiến thiết” lại hình ảnh phương Đông cổ xưa. Chúng ta nhận thấy sự gặp gỡ giữa quan điểm của V. Segalen với Edward Said, nhà Đông phương học nổi tiếng, tác giả chủ chốt của phê bình hậu thực dân. Trong công trình Đông phương học (Orientalisme) của mình, E. Said đã nhận thấy có hai phương Đông tồn tại trong trí óc, tâm thức của người phương Tây: “Phương Đông vừa là một thế giới cổ mà người ta muốn trở lại, như trở lại thăm vườn Eden hoặc Thiên đàng, để xây dựng một phiên bản mới về thế giới cổ đó, đồng thời vừa lại là một nơi hoàn toàn mới mà người ta đến thăm như chuyến đi của Colombus đến châu Mĩ” [7; tr.63]. Song song với dòng văn học hương xa, ở phương Tây diễn ra một quá trình tìm đến phương Đông như một nguồn bảo lưu những giá trị nhân bản/nhân loại cổ xưa. Phương Đông được nhìn nhận như một thế giới tĩnh tại, ít biến động, lạc hậu, hoang sơ; theo đó/hơn thế, nó chứa đựng một nguồn tư liệu văn hóa lâu đời và quý giá. Người ta thấy được ở phương Đông những “dưỡng chất” để bổ sung/thay đổi/phục sinh lại một châu Âu già nua, đang dần rơi vào cuộc “khủng hoảng thừa”. Tuy nhiên, khi đối diện với một phương Đông hiện đại bằng tư duy duy lí - kinh nghiệm, đóng đinh trong những diễn ngôn đã tồn tại trước đó về phương Đông khiến cho sự kiêu hãnh của phương Tây trở thành cái gọi là “sự vỡ mộng trong quá trình tái hiện phương Đông” [6].

Nhãn quan thực dân về phương Đông/Việt Nam tính thể hiện khá đậm nét trong tác phẩm điện ảnh phương Tây. Trong số nhiều bộ phim về Việt Nam, Đông Dương (Indochine, đạo diễn người Pháp Régis Wargnier) và Người Mĩ trầm lặng (The Quiet American, đạo diễn Phillip Noyce chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Anh Graham Greene) thể hiện khá rõ nhãn quan này bằng việc tạo dựng hình ảnh Việt Nam nhược tiểu qua nhân vật Camille (cô công chúa Việt Nam mồ côi cha mẹ được người phụ nữ Pháp nhận làm con nuôi trong Đông Dương) và nhân vật Phượng (một “taxi dancer”, một vũ nữ, tình nhân của hai người đàn ông ngoại quốc trong Người Mĩ trầm lặng). Tính chất nhược tiểu mà Đông phương học quy ước cho phương Đông - “ngoại biên” (duy cảm, phi logic, chuyên quyền, man rợ…) đã làm nổi bật tính ưu việt của phương Tây - trung tâm (logic, dân chủ, tiến bộ, văn minh…). Thậm chí, diễn ngôn của phương Tây về phương Đông kiến tạo ra một thế đối lập khác: cực tính nam - phương Tây - sáng rõ, trật tự, nhạy bén, nguyên tắc, mạnh mẽ; và cực tính nữ - phương Đông - phi logic, thụ động, phi nguyên tắc, duy cảm, mềm yếu [1].

Đối thoại nhãn quan, diễn ngôn thực dân về Việt Nam tính có tính chất áp đặt của quyền lực phương Tây, Y. Feray đã thể hiện sự cộng cảm sâu sắc bằng một tình yêu chân thành dành cho Việt Nam, xứ sở đã từng là thuộc địa của dân tộc bà trong hai tiểu thuyết ưu tú là Vạn XuânLãn Ông. Bằng tác phẩm của mình, bà đã “cảnh tỉnh” thế giới phương Tây: Không thể nhìn phương Đông/Việt Nam bằng con mắt định kiến của “trung tâm”, “văn minh”, nếu không muốn rơi vào bi kịch “vỡ mộng”, “lại giống”. Sáng tác của bà đã thể hiện cảm quan mới mẻ phát xuất từ tư duy biện chứng, sự tôn trọng, ngưỡng mộ được chắt lọc, thẩm thấu trong một lối viết hiện đại, sáng tạo. Viết về lịch sử Việt Nam, trong quan niệm của nữ văn sĩ người Pháp không phải do sự hối thúc thoát li thực tại phương Tây như quan niệm của dòng văn học hương xa, càng không phải là sự kiến tạo diễn ngôn của phương Tây về phương Đông ẩn chứa tham vọng bá chủ hợp thức của chủ nghĩa đế quốc phương Tây như quan điểm phê bình hậu thực dân; mà trước hết nó phát xuất từ trực giác của người nghệ sĩ khi tìm được mối tương liên, đồng điệu tâm hồn: “vừa choáng ngợp trước sự cao đẹp biết bao hùng tráng, vừa tê tái trước biết bao thảm kịch!” [2; tr.7]. Không chỉ dừng lại ở sự mách bảo của linh cảm cá nhân, con đường sáng tạo của người nghệ sĩ đồng thời với quá trình suy tư, đối thoại với lịch sử vừa nhằm khám phá, lí giải những vấn đề hiện hữu trong quá khứ của một dân tộc/một thời đoạn/một nhân vật; vừa là sự nối kết Đông - Tây trong quá khứ - hiện tại  - tương lai để hiểu hơn về mình và dân tộc mình. Trong Lời tựa cho bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết Lãn Ông, Y. Feray đã nhắc đến cách nhìn của V. Segalen đối với phương Đông và đặc biệt nguồn cảm hứng từ lịch sử, văn hóa Việt Nam như một “chỉ dẫn” để bà “tìm đến sự hiệp thông thực sự về văn hóa và phản bác điều khẳng định của Kipling “Đông là Đông và Tây là Tây”. Hơn nữa đó còn là sự thôi thúc của tâm thức người nghệ sĩ khi được “trở về với nền văn hóa Xentơ gốc rễ của mình” [3; tr.7-8]. Với nhà văn, bước ra thế giới bên ngoài (phương Đông/Việt Nam) không ngoài mục đích trở về với cội nguồn văn hóa, cái nôi chung của nhân loại, qua đó khẳng định bản sắc cá nhân của mình. Bà không ngần ngại thổ lộ sự ngưỡng vọng chân thành của một tác giả phương Tây khi chọn đề tài lịch sử, văn hóa Việt Nam làm chất liệu khơi nguồn cảm hứng trong những sáng tạo của mình. Bà quan niệm quá trình sáng tạo cũng đồng thời là “chu kì hòa nhập cá nhân với hi vọng tái hiện được một Việt Nam thế kỷ 18 với một Việt Nam quen thuộc và bình dị giống sự thật hơn cả sự thật” [3; tr.7].

Không chỉ đối thoại với nhãn quan phương Tây về phương Đông/Việt Nam, Y. Feray còn gợi ý, đề nghị độc giả phương Tây một cách đọc trong một không gian đọc khác: “hãy dấn thân đóng khung vào trong cái thế giới Á Đông lưỡng diện này (Trung Hoa - Việt Nam): không còn dựa vào những tiêu chuẩn quen thuộc của mình, nghĩa là độc giả ấy sẽ đi vào bên trong (hoặc đứng từ bên trong) một nền văn hóa có những cách suy tư, biểu lộ, ứng xử khác với mình và có thể khiến mình khó chịu nữa” [9]. Có như vậy, độc giả mới thật sự đồng sáng tạo, thụ hưởng lịch sử với nhà văn trong một niềm say mê, kinh ngạc chưa từng có bao giờ.

Như vậy, với cảm thức lịch sử trong tâm thế đối thoại với nhãn quan, diễn ngôn phương Tây về Việt Nam, Y. Feray đã tìm cho mình một nẻo đi riêng để tiếp cận, luận giải lịch sử và con người Việt vô cùng sâu sắc, chân thực và quyến rũ.

Lịch sử và những biên độ sáng tạo, hư cấu của Y.Feray

Cũng như nhiều nhà văn khi lựa chọn lịch sử làm đề tài sáng tác của mình, Y. Feray cũng đã tìm tòi và sáng tạo nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử. Làm thế nào để vừa đảm bảo tính chân thực của lịch sử, vừa phát huy đặc tính hư cấu, sáng tạo của tiểu thuyết. Có thể nói, thông qua Vạn XuânLãn Ông, người nghệ sĩ đã giải quyết hài hòa, tinh tế, thấu đáo mối quan hệ cốt tủy đó. Một mặt, nhà văn vẫn dựa vào các sự kiện, biến cố, nhân vật được ghi trong chính sử làm phông nền, bối cảnh cho tác phẩm của mình. Viết Vạn Xuân Lãn Ông, tác giả đã dành ra một khoảng thời gian rất lớn để tìm tòi, nghiên cứu khối tài liệu khổng lồ liên quan đến thời đại và nhân vật lịch sử mình quan tâm; gặp gỡ các nhà lãnh đạo Việt Nam (Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp); tham vấn các giáo sư, nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa trong và ngoài nước; tranh thủ ý kiến của các nhà trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng (Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi); nhờ người dịch các tài liệu ra tiếng Pháp (Thượng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái). Càng đi sâu tìm hiểu, bà càng phải đối diện với sự thật nghiệt ngã do thiếu vắng tư liệu: “phần bị tiêu hủy, phần bị thất lạc qua bao cuộc xâm lăng, do khí hậu phong thổ, do côn trùng gậm nhấm và cũng là do sự sao nhãng thờ ơ của con người” [2; tr.7]. Không dừng lại ở đó, việc tiếp cận và xử lí tư liệu cũng mang lại muôn vàn khó khăn cho một tác giả ở trời Tây vốn quá khác biệt về văn hóa, chính trị, xã hội, ngôn ngữ… Y. Feray đã vượt qua tất cả bằng tâm thế, tài năng của một nghệ sĩ - trí thức dấn thân cùng tinh thần quả cảm và trái tim nồng hậu yêu thương mảnh đất, con người Việt Nam để viết nên hai trong số những tác phẩm viết về Việt Nam hay nhất của tác giả nước ngoài. 

Bên cạnh những tư liệu chính thống, tác giả đã sử dụng tinh tế, chừng mực giấc mơ, điềm báo định mệnh nhuốm màu sắc giai thoại, truyền thuyết, huyền thoại và những câu tục ngữ, ca dao, dân ca đậm chất Việt được lưu truyền trong dân gian tạo từ trường hấp dẫn cho độc giả. Trên hết, với Y. Feray, cứ liệu và chân lí lịch sử dù có phong phú, chân thực đến đâu cũng không thể thay thế được chân lí, hư cấu nghệ thuật. Bà đã tìm cho mình một phương án, một cứu cánh để tiếp cận, khám phá lịch sử. Nhà văn đã phát huy cao độ tính ưu việt của tiểu thuyết để khắc phục sự thiếu vắng của cứ liệu lịch sử: “trong lúc các sử gia thấy phạm vi công trình nghiên cứu của mình về đề tài này (cuộc đời Nguyễn Trãi - NVH) bị hạn chế, thì trái lại tôi bỗng nhớ bài giảng của thầy dạy tôi, ông Georges Duby, chất liệu phong phú đầy tính tiểu thuyết lại mở ra cho nhà viết truyện những vùng rộng lớn bao la cho trí tưởng tượng” [2; tr.8]. Vận dụng sáng tạo công thức nổi tiếng của tiền bối Alexandre Dumas, bà đã thả trí tưởng tượng vào cuộc đời “phiêu lưu” muôn màu muôn vẻ đầy quyến rũ của Nguyễn Trãi (Vạn Xuân) từ khi sinh ra, thăng trầm qua bao biến thiên của dân tộc đến bi kịch Lệ Chi Viên; và sáng tạo thay cho Lãn Ông một cuộc hành trình khác với chuyến đi mà ông đã thuật lại trong Thượng Kinh kí sự. Nhà văn đã thực sự khiến người đọc phải sửng sốt, ngỡ ngàng, mãn nhãn bằng những sáng tạo tuyệt vời của mình. Bà công khai “sửa” lại lịch sử khi “sáng tạo ra một đứa trẻ” - Thế tử Trịnh Cán, đặt nhân vật trong mối quan hệ tưởng tượng với Lê Hữu Trác, làm đảo ngược vai trò của các nhân vật, hư cấu đoạn kết của câu chuyện tạo nên một cuộc “phiêu lưu” kì lạ, quyến rũ trong cuộc sống của “ông già lười”. Tác giả đã phục dựng sinh động, chân thực bức tranh của hai thời kì đầy biến động trong lịch sử Việt Nam: giai đoạn cuộc kháng chiến thần thánh chống quân Minh, tái thiết đất nước trải dài từ thế kỉ XIV sang thế kỉ XV trong Vạn Xuân; thời kì rối ren của “thế kỉ ánh sáng Việt Nam” đầy rẫy những mưu toan, tranh giành quyền lực cung đình trong Lãn Ông. Với Vạn XuânLãn Ông, ở một phương diện nào đó là những bản anh hùng ca về nền văn hiến đầy khí phách, về một dân tộc đầy bản lĩnh, về con người giàu lòng nhân ái.

Từ chân dung lịch sử nhà văn đã hư cấu thành những chân dung tiểu thuyết vô cùng sắc nét và sinh động. Viết về cuộc đời những nhân vật lịch sử ít nhiều đã “sống” trong lòng dân tộc từ rất lâu, Nguyễn Trãi - danh nhân văn hóa thế giới, anh hùng dân tộc, Lê Hữu Trác - đại danh y, ngôi sao sáng của văn hóa Việt Nam tưởng chừng dễ mà lại vô cùng khó. Dễ vì cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật đã được định vị, minh chứng qua thời gian; khó là làm sao để người đọc nhận diện được chân dung Nguyễn Trãi, Lãn Ông và hơn nữa, một Nguyễn Trãi, một Lãn Ông với những phát hiện, kiến giải mới. Viết về Nguyễn Trãi, nhiều tác phẩm đã để lại ít nhiều dấu ấn trong lòng độc giả (Đất trời của Nam Dao, Vằng vặc sao Khuê của Hoàng Công Khanh, Sao Khuê lấp lánh của Nguyễn Đức Hiền), cũng không ít tác phẩm của các nhà văn Việt Nam gây ra nhiều tranh cãi gay gắt (Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Trở về Lệ Chi Viên của Nguyễn Thúy Ái) và có cả những tác phẩm nhanh chóng bị lãng quên... Đến Vạn Xuân, Y. Feray đã hình dung một Nguyễn Trãi của riêng mình vừa gần gũi vừa độc đáo bằng chính quan niệm khác biệt của mình: “Cuốn sách này (Vạn Xuân - NVH) không nhằm trình bày một cuộc đời được tiểu thuyết hóa, hay một tiểu sử được thêm màu mè văn vẻ” [2, tr.8]. Hai xu hướng tác giả né tránh là “tiểu thuyết hóa” lịch sử và viết/minh họa “tiểu sử”, dù cho nó khá thịnh hành trong giới sáng tác những năm gần đây. Cái nhà văn quan tâm là làm sao thông qua số phận con người trong cơn biến thiên của lịch sử để phân tích, luận giải những “hằng số” lịch sử bằng chính nhãn quan cá nhân của mình.

Bên cạnh việc tập trung miêu tả nhân vật chính (Nguyễn Trãi, Lê Lợi trong Vạn Xuân; Lãn Ông, Trịnh Cán trong Lãn Ông), Y. Feray còn dụng công khắc họa hệ thống nhân vật phụ (có thật và hư cấu) cũng không kém phần sắc nét, chân thực. Từ Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Trần Thị Thái, Hồ Quý Ly, Hoàng Phúc đến Đạo sĩ Vô Kỷ, anh thợ mộc Từ Chi, Hương Thầm, Tiểu Mai (Vạn Xuân), từ Trịnh Sâm, Thị Huệ, Hoàng Đăng Bảo, Đặng Báo đến bà Tuyết, cô Lan, chú Soạn, thầy Châu (Lãn Ông)… ai cũng có diện mạo, tính cách, tư chất riêng, thậm chí có cả những cố tật riêng. Các nhân vật được nhìn nhận, khám phá trong muôn vàn mối quan hệ đời tư, thế sự, khiến tất cả trở nên gần gũi, đời thường hơn bao giờ hết.

Nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử của Y. Feray mang một sứ mệnh lớn lao là truy tìm trong quá khứ những “gương mặt người”. Nó vừa giống như một sự đối thoại với lịch sử, khước từ những quy phạm cũ, vừa đề xuất những giá trị mới để đánh giá con người: hệ giá trị nhân bản. Nhờ đó, văn học có những khám phá toàn diện, nhiều chiều về con người, mở ra những tầng sâu mới mẻ và thú vị trong đời sống bí ẩn, vô cùng vô tận của những “bản ngã người” sinh động và chân thực.

Luận giải lịch sử từ điểm nhìn đời tư, thế sự, nhân văn

Trong Vạn XuânLãn Ông, Y. Feray đã đặt ra và luận giải nhiều vấn đề trong lịch sử, văn hóa: vấn đề chủ quyền dân tộc trong sự tương xứng/bình đẳng dân tộc, lãnh thổ, quốc gia, vấn đề mối quan hệ giữa trí thức và quyền lực, y học và quyền lực, vấn đề khoa cử, vấn đề thân phận con người trong dòng chảy lịch sử, vấn đề bản sắc văn hóa Việt Nam trong sự xâm lấn của văn hóa ngoại lai, vấn đề chiến lược bang giao với nước láng giềng nhiều duyên nợ Trung Hoa, vấn đề về đạo đức nghề nghiệp, vấn đề ám ảnh huyền thoại, vấn đề dân trí, vấn đề tình yêu, tình dục… Từ các vấn đề đó, tác giả đã truy tìm từ quá khứ những bài học để nối kết với cuộc sống hôm nay và dùng nhãn quan hiện tại/hiện đại soi tỏ, đối thoại quá khứ.

Ngoài những suy tư, trăn trở về số phận con người trong cuộc biến thiên lịch sử, nhà văn còn “giả/giải lịch sử”, soi rọi nhân vật dưới tọa độ đời tư -  thế sự - nhân văn làm nên hệ chủ đề trong các hư cấu tự sự lịch sử của mình: khát vọng tự do, lòng nhân nghĩa, tình yêu đôi lứa, hạnh phúc gia đình, dục vọng bản năng... Những khát vọng mang tính nhân bản có tầm phổ quát này đã đem lại sức ám ảnh/sự quyến rũ khôn nguôi cho các tác phẩm của Y. Feray. Trong tiểu thuyết của nữ văn sĩ Pháp, chủ đề tình yêu có một sức hút kì diệu, nó cho thấy từ sâu thẳm tính người, nhân loại khi đi tìm ý nghĩa đích thực của đời sống đều gặp nhau ở điểm hẹn tình yêu. Đó là mối tình phong nguyệt, trắc trở, nhiều cung bậc của Nguyễn Phi Khanh và Trần Thị Thái; mối tình mang màu sắc tài tử - giai nhân xen lẫn bản năng và xảo nghệ của Nguyễn Trãi và Tiểu Mai; mối tình định mệnh tri âm tri kỉ, với những khao khát nhân tính không vẹn tròn của Nguyễn Trãi và Thị Lộ; mối tình vừa chứa đựng tình mẫu tử, vừa pha lẫn dục vọng của Lê Thái Tông và Thị Lộ; mối tình lặng lẽ của nô tì Nhụy Nhài với ông chủ Nguyễn Trãi. Nhờ đó, lịch sử trở nên vô cùng gần gũi, đời thường khi mang gương mặt của khát vọng tình yêu.

Viết về bản năng, đời sống tình dục không phải là điều gì quá xa lạ với văn chương hiện đại. Tuy vậy, với văn xuôi hư cấu lịch sử, đó lại là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Từ chùm truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp, Trở về Lệ Chi Viên của Nguyễn Thúy Ái, Hành trạng tâm linh của Đỗ Trọng Khơi, Giáo sĩ, Gia phả, Mùa mưa gai sắc của Trần Vũ, Dị hương của Sương Nguyệt Minh đến Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Vạn Xuân của Y. Feray… ít nhiều khiến dư luận quan tâm, bàn cãi. Bên cạnh nỗ lực bắt kịp, hòa mình vào đời sống văn học đương đại, các tác phẩm còn thể hiện nguyên tắc khám phá con người vừa ở góc độ cụ thể, chân thực và vừa ở chiều kích bí ẩn, sâu kín nhất. Qua đó, nhà văn mới có thể hoàn nguyên các giá trị, trả lại cho nhân vật sức sống và những biểu hiện đa dạng, phức tạp của tính người trọn vẹn. Ở một khía cạnh khác, cũng phải thừa nhận không ít nhà văn dường như quá lạm dụng sex, chạy theo thị hiếu để câu khách và đội lốt nhu cầu “đổi mới, hiện đại” của văn chương. Tuy vậy, một khi các yếu tố bản năng bị dịch chuyển khỏi các giá trị văn hóa của cá nhân và cộng đồng, cảm xúc thiêng liêng, trong sáng, thánh thiện của nó thì con người sẽ đánh mất đi nhân tính, biến thành một sinh vật tầm thường và văn học mất đi ý nghĩa tồn tại đích thực của nó. Từ một góc nhìn nào đó, chúng tôi cho rằng việc xử lí vấn đề đời sống bản năng, tình dục trong Mẫu Thượng NgànVạn Xuân là hợp lí, tinh tế đối với một hư cấu tự sự lịch sử. Hai tác giả đã gặp gỡ nhau trong mục đích khai thác đời sống tình dục ở giá trị cứu rỗi, điều hòa, phản kháng của văn hóa bản địa với cái cương cường, bạo liệt của văn hóa ngoại lai (Mùi (thuộc địa) - Philippe (thực dân) trong Mẫu Thượng Ngàn, Hương Thầm (man di) - Hoàng Phúc (Thiên triều) trong Vạn Xuân). “Nhu nhược thắng cương cường” (Cái mềm, cái yếu thắng cái mạnh, cái cứng) đã thể hiện sức sống mạnh mẽ, phản lực tự vệ của văn hóa bản địa với ý đồ triệt tiêu và “đồng hóa” của văn hóa ngoại lai. Nếu như Mẫu Thượng Ngàn khai thác vẻ phồn thực, thánh thiện của nữ tính vĩnh hằng qua biểu tượng đôi vú và làn da, thì Vạn Xuân lại khám phá vẻ tự nhiên, hoang dã, tràn đầy nhựa sống qua đời sống dục tính đầy bản năng của anh thợ mộc Từ Chi. Bên cạnh đó, với việc miêu tả đời sống tình dục của Nguyễn Trãi - Tiểu Mai, Thị Lộ - Thái Tông cùng những ẩn ức, mặc cảm của Nguyễn Trãi - Thị Lộ, Y. Feray đã “trưng ra” những miền sâu kín vô thức của các nhân vật, đồng thời góp phần lí giải nhiều khuất lấp của lịch sử. Không còn hình ảnh của một “ông thánh tiết dục” trong ý thức tôn sùng của cộng đồng hay trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thân, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Trãi được soi rọi và lí giải như một “khối libido mãnh liệt”. Thánh mẫu Nguyễn Thị Lộ dưới cái nhìn đồng cảm nữ giới của Y. Feray trở lại dáng vẻ một người phụ nữ trần thế chứa đầy những ẩn ức, khát khao bản năng. Mối quan hệ phức tạp gắn với số phận của Thái Tông, Nguyễn Trãi, Thị Lộ là chất liệu để tác giả hình dung, phục hiện bi kịch Lệ Chi viên gần 600 năm trước. Trước và sau Y. Feray, nhiều nghệ sĩ với những loại hình nghệ thuật khác nhau (về sân khấu: Bí mật vườn Lệ Chi - Hoàng Hữu Đản, Oan khuất một thời - Lê Chức; về văn học: Rắn báo oán, Đất trời, Oan khuất, Trở về Lệ Chi Viên, Hội thề, Sao Khuê lấp, Vằng vặc sao Khuê…) đã tái hiện vụ án Lệ Chi Viên như một món nợ mà bất kì người Việt Nam nào cũng day dứt khi nhớ về Nguyễn Trãi và gia tộc ông. Thật bất ngờ, ở một xứ sở xa xôi, Y. Feray khi chọn viết về Nguyễn Trãi cũng đã có cách lí giải vô cùng thuyết phục bằng một sự thấu hiểu, đồng cảm hết sức sâu sắc. Khép lại vấn đề này, xin lấy ý kiến của B.Lu. Krigev, nhà văn, triết gia Canada để cùng suy ngẫm khi viết và bàn về vấn đề tình dục trong văn xuôi hư cấu lịch sử: “Không phải mọi sự thức tỉnh xác thịt (đặc biệt là thứ chường ra cho công chúng) đều là sự chân thật được mong chờ trong tự thân văn hóa đích thực” (Văn nghệ số 9/2009).

Vấn đề “giải thiêng” thần tượng cũng là một trong những đề tài được bàn luận sôi nổi trên văn đàn Việt. Khởi đi từ “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp” viết về vua Quang Trung, tiếp đến Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Mộng Giác, Bùi Anh Tấn…, các nhà văn đã không hài lòng với cái nhìn phiến diện, một chiều khi viết về các vĩ nhân, anh hùng trong lịch sử. Nhiều tác giả không quan tâm nhiều đến “tư thế lịch sử” của nhân vật, không miêu tả họ trong khi mặc quân phục diễu hành, mà chú trọng khai thác yếu tố đời tư cũng như tấn bi kịch cá nhân trong dòng chảy lịch sử. Bằng cái nhìn đời thường, trần tục, nhiều nhân vật đã hiện lên như những con người đời thường, thậm chí là tầm thường với sự đa chiều, phức tạp trong tính cách. Các nhà văn đã kéo thần tượng của cộng đồng trở về với kích cỡ của con người mang thân phận làm người, “giải thiêng hóa”, lật tẩy thần tượng, huyền thoại.

Có thể nói, mạch cảm thức lịch sử này đã được khơi nguồn từ hai nhà văn ở hai phương trời khác nhau, một đến từ Pháp và một ở Việt Nam. Nữ nhà văn người Pháp Y. Feray, với cái nhìn dân chủ, tư tưởng tự do phương Tây, trong tiểu thuyết Vạn Xuân (xuất bản ở Pháp năm 1988, dịch ở Việt Nam năm 1996) đã đưa vĩ nhân lịch sử Nguyễn Trãi trở lại chiều kích Con Người bằng việc khai thác ở vị Thái Sơn Bắc Đẩu của làng Nho Việt Nam này một trong những phương diện nhân bản nhất của con người: đời sống tính dục. Bên cạnh đó, trong nhiều chi tiết, anh hùng áo vải Lê Lợi được khai thác, miêu tả ở bản năng hoang dã, dung tục, thô lỗ như ăn thịt trâu sống, tu rượu ùng ực cùng tính cách nóng nảy, đa nghi, ích kỉ… Gần như song song với thời điểm Y. Feray viết Vạn Xuân, Nguyễn Huy Thiệp đã “đại náo làng văn” bằng việc khơi sâu vào vào mặt khuất lấp trong tính cách của Quang Trung (Phẩm tiết) như nóng nảy, lăng mạ quần thần, si mê gái đẹp…  Tác phẩm của Y. Feray, Nguyễn Huy Thiệp và nhiều nhà văn đương đại đã đối thoại, phản biện với người đọc về cách nhìn lịch sử theo lối mòn, gợi mở cho nhiều nhà văn một cái nhìn khác, một cách viết mới về các vĩ nhân trong lịch sử.

Kết luận

Y. Feray qua tiểu thuyết của mình đã đề xuất cách nhìn mới về lịch sử, mở rộng cái nhìn đối với nhiều thời đại trong quá khứ, truy tìm, suy ngẫm và giải mã những vấn đề trong quá khứ, ráo riết tìm lời giải đáp cho các câu hỏi thiết thực của hiện tại. Lịch sử trong tiểu thuyết lúc này trở thành lịch sử trong cảm nhận cá nhân, được nhà văn nhìn nhận bằng điểm nhìn văn hóa, triết học lịch sử và thụ hưởng trên tinh thần nhân văn hiện đại. Sự thành công của Vạn XuânLãn Ông mang lại những tín hiệu vui cho những sáng tạo văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử trong nỗ lực đổi mới, hội nhập với thế giới. Ở một góc độ nào đó, tiểu thuyết của Y. Feray như một tham khảo sống động, bổ ích về nhãn quan, sự luận giải và nghệ thuật viết cho các nhà văn Việt Nam trong hành trình lưu giữ và khai phóng kí ức.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Thị Vân Anh, “Tính chất nước đôi và mầm mống phá hủy nhãn quan thực dân về Việt Nam tính trong bộ phim Đông Dương”, nguồn: http://www.tienve.org/home/visualarts/viewVisualArts.do;jsessionid=4CCC528F09F41578579554D7FFC63639?action=viewArtwork&artworkId=9887

2. Yveline Freray (2002), Vạn Xuân, Nguyễn Khắc Dương dịch, NXB Văn học & Sudestasie, Hà Nội.

3. Yveline Feray (2005), Lãn Ông, Lê Trọng Sâm dịch, NXB. Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.

4. Lại Văn Hùng (2001), Nhân vật Nguyễn Trãi và mấy vấn đề đặt ra từ Vạn Xuân, Tạp chí Văn học, số 6/2001, tr.33-42.

5. Hoài Nam (2008), “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam: Truyện kể hay tiểu thuyết?”, nguồn: http://vnn.vietnamnet.vn/vanhoa/2008/10/808926/

6. Lê Thu Phương Quỳnh (2011), “Sự vỡ mộng về phương Đông: Trường hợp Marguerite Yourcenar và hình ảnh Nhật Bản trong Le Tour De La Prison”, nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1928:s-v-mng-v-phng-ong-trng-hp-ca-marguerite-yourcenar-va-hinh-nh-v-nht-bn-trong-le-tour-de-la-prison&catid=64:vn-hc-nc-ngoai-va-vn-hc-so-sanh&Itemid=108&lang=en

7. Edward Said (1998), Đông Phương học, Tủ sách tham khảo cơ bản khoa học xã hội và nhân văn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.63.

             8. Hoàng Thị Thanh Trà (2011), Phương sách ngoại giao Việt - Trung Quốc trong nhận định của Yveline Feray (Khảo sát trường hợp Nguyễn Trãi trong Vạn Xuân), nguồn:http://vanhoanghean.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c- nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/phuong-sach-ngoai-giao-viet-nam-trung-quoc- trong-nhan-dinh-cua-yveline-feray-khao-sat-truong-hop-nguyen-trai-trong-van-xuan