Nghệ sĩ Nhiếp ảnh PHAN THOAN

image001 14
- Hội viên Hội liên hiệp VHNT Hà Tĩnh
Chỗ ở hiện nay: Phường Quan Hoa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại nhà riêng: 0483349738
Giải thưởng văn học nghệ thuật, báo chí:
- Huy chương vàng Triển lãm ảnh quốc tế tại Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ IX tổ chức tại Xôphia ( Bun ga ri) năm 1968
Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. 
-  Huy chương vì sự nghiệp VHNT VN


O du kích nhỏ là một tác phẩm  của nghệ sĩ Phan Thoan (sinh năm 1924) thực hiện vào ngày 21 tháng 9 năm 1965. Ra đời trong bối cảnh Không quân Hoa Kỳ oanh tạc dữ dội miền Bắc Việt Nam, tác phẩm mô tả hình ảnh một nữ dân quân có vóc dáng nhỏ bé đang cầm súng áp giải một viên phi công Mỹ to lớn đang cúi đầu. Bức ảnh sau khi ra đời đã gây được tiếng vang rất lớn trong dư luận Việt Nam và được coi là nguồn động viên cho cuộc chiến đấu của quân đội và nhân dân miền Bắc Việt Nam chống lại chiến tranh phá hoại của Không quân Hoa Kỳ.

            Ngày 20 tháng 9 năm 1965 vào khoảng 9 giờ sáng, nữ dân quân Nguyễn Thị Kim Lai, lúc này mới học hết cấp II, nhận được tin một nhóm máy bay F4H tấn công bắn phá cầu Đá Lậu (nay là cầu Lộc Yên) thuộc thị trấn Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh. Một chiếc trong tốp máy bay này đã bị dân quân tự vệ Hà Tĩnh bắn rơi, họ nhận thấy rằng viên phi công của chiếc F4 đã kịp nhảy dù thoát vì vậy một chiến dịch vây bắt viên phi công này lập tức được triển khai. Cuối cùng thì trong đêm ngày 20, chị Lai đã phát hiện viên phi công Mỹ có tên William Andrew Robinson đang vướng trong bộ dây dù, lập tức chị bắn súng gọi đồng đội đến hỗ trợ và cũng chính chị được cử áp giải viên phi công Mỹ. Theo chị Lai, lúc đó chị chỉ cao 1 mét 47, nặng 37 kg trong khi Robinson cao tới 2 mét 2 và nặng 125 kg. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Thoan đã chụp được tấm hình này, lúc đầu tác giả đặt tên cho bức ảnh là Uy thế không lực Hoa Kỳ và về sau bức ảnh có những cái tên khác nhau như O du kích nhỏGiải giặc lái Mỹ hay O du kích nhỏ và tên giặc lái Mỹ.
            Theo tài liệu quân đội Hoa Kỳ, William Andrew Robinson là một nhân viên trên một máy bay trực thăng HH-43 Huskie đang giải cứu phi công của một chiếc máy bay F-105 Thunderchief đã bị bắn rụng khi trực thăng của ông cũng bị bắn hạ, và ông bị bắt cùng với các nhân viên khác trên trực thăng. Ông bị giam giữ tổng cộng 2.703 ngày, và mãi đến ngày 12 tháng 2 năm 1973 mới được thả về nước. Ông là tù binh bị giam giữ lâu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
            Năm 1966 bức ảnh O du kích nhỏ được trưng bày trong Triển lãm ảnh toàn quốc và lập tức gây được tiếng vang lớn. Khi xem bức ảnh này, Nhà thơ Tố Hữu đã nẩy ra những câu thơ hay, có thể coi là mẫu mực của loại thơ "xem ảnh đề thơ" hoặc là "vịnh ảnh" và bình bức ảnh bằng bốn câu thơ:
O du kích nhỏ giương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
Ra thế, to gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu!
            Trong cuộc chiến tranh phòng không chống lại Không quân Mỹ, bức ảnh O du kích nhỏ cùng bốn câu thơ bình kèm của Tố Hữu đã lập tức được nhiều người yêu thích, tới năm 1967 thì tác phẩm này được đưa lên tem thư của Bưu điện Việt Nam.O du kích nhỏ còn gây được tiếng vang ở cả tầm quốc tế,
Đằng sau bức ảnh nổi tiếng
“Cuộc sống bên Mỹ rất khó khăn, nhiều lần Ariam Robinson muốn sang Việt Nam tìm gặp tui mà không thể nào. Và tui cũng muốn biết, sau bao nhiêu năm, Ariam Robinson sinh sống bên ấy ra sao. Nếu không có Hãng NHK (Nhật Bản) phối hợp với Đoàn làm phim tư liệu Trung ương thực hiện bộ phim tài liệu “Cuộc hội ngộ sau 30 năm”, có lẽ chúng tôi không có cơ hội gặp lại nhau”, o Nguyễn Thị Lai cho hay.

 “Năm 1965, bầu trời Hương Khê bị máy bay Mỹ gầm rú ngày đêm, còn trên mặt đất, súng bộ binh của ta rền vang đỏ lửa. Sáng ngày 20/9/1965, cầu Đà Lề là mục tiêu của máy bay Mỹ. Khoảng 11 giờ trưa, hàng chục chiếc máy bay từ hướng Đông đổ nhào bắn phá. Một Chiếc F105 bị trúng đạn, bốc cháy. Có một viên phi công nhảy dù” - o Lai bồng đứa cháu ngoại trên tay, hồi nhớ lại.
Khi viên phi công nhảy dù xuống mặt đất, đã dùng chiếc máy bộ đàm để phát lệnh xin cứu. Nhận được tín hiệu, ba chiếc trực thăng của Mỹ đến yểm trợ. Không lơ là cảnh giác, pháo bộ binh ta đã trực sẵn, bắn hạ một chiếc. Khi chiếc trực thăng bốc cháy, ba viên phi công bung dù thoát thân. Biết được bốn tên gặc lái đang ẩn nấp trong rừng, dân quân xã Hương Lộc đã được điều động, phối hợp với bộ đội lùng bắt giặc lái Mỹ. Mới tham gia thanh niên xung phong được hai tháng, o Lại tay bóp cò chưa vững,




đã cầm khẩu AK, cùng với mọi người truy lùng giặc lái Mỹ giữa đại ngàn rừng Trường Sơn.
      “Do điểm đổ bộ của bốn viên phi công gần với biên giới Lào, bộ đội ta quyết tâm bắt sống những viên phi công trong ngày, không để sang ngày hôm sau. Hơn 5 giờ chiều, trời nhá nhem tối, quân ta chưa bắt được một tên nào, mọi người động viên nhau vào sâu trong rừng tìm kiếm tiếp. Khi phát hiện trong một hốc đá có tiếng động, tui tiến lại gần. Thấy một viên phi công đang ngồi co ro. Chưa nhìn được mặt, tui bắn ba phát súng chỉ thiên. Viên phi công đó giơ hai tay xin đầu hàng. Nghe được tiếng súng, mọi người chạy đến, trói tay viên phi công cao lớn. Thấy tui là người nhỏ nhất trong tiểu đội thanh niên xung phong xã, và là người phát hiện tên giặc lái, mọi người đã nói: Để o Lai giải viên phi công này, xem o có to bằng cái đùi của nó không”, o Lại kể lại.
O Lai với chiều cao 1,48m, nặng 37kg, tay cầm khẩu súng AK giương lưỡi lê, giải Ariam Robinson cao 2,2m, nặng 125kg về huyện đội, đã làm cho hàng nghìn người đổ ra đường xem. “Tui cũng không ngờ anh Phan Thoan, phóng viên báo Hà Tĩnh, lại chớp thời cơ chụp được khoảnh khắc đó, nên sau đó dư luận mới biết đến tui”, o Lai tâm sự. Không lâu sau, o Lai đi học lớp y tá, rồi xung phong vào mặt trận B5, miền Tây Quảng Trị. Còn Ariam Robinson được chuyển ra Hà Nội.
Trong một lần được gặp nhà thơ Tố Hữu, o Lai đã được nhà thơ sáng tác tặng cho một bài thơ: O du kích nhỏ giương cao súng /Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu /Ra thế to gan hơn béo bụng /Anh hùng đâu cứ phải mày râu…
Nghệ sĩ Phan Thoan và anh chị em văn nghệ sĩ Hà Tĩnh tại Văn phòng Hội


Cuộc trùng phùng ngoài ý muốn
        “Đã ba mươi năm (từ 1965-1995), ký ức của tui về hình ảnh Ariam Robinson vẫn y nguyên. Và tui cứ nghĩ, sẽ không bao giờ gặp lại Ariam nữa”, o Lai xúc động kể lại ngày Ariam Robinson tìm đến ngôi nhà ngói ba gian ở đường Xuân Diệu, thị xã Hà Tĩnh gặp o.
       Thật bất ngờ, một buổi sáng đầu tháng 9/1995, o Lai đang bồng cháu nội sang nhà hàng xóm chơi, nghe có người gọi: “Bà Lai về nhà tề, có mấy người nước ngoài hỏi nhà bà đó”. O Lai tất tả bồng cháu về. Khi về đến cổng, o ngạc nhiên: ai mà cao to giống như Ariam Robinson hồi mình giải lên huyện ủy nhỉ. O chưa kịp hỏi, Ariam đã giang hay tay ôm o và đứa cháu vào vòng tay và nói: “Nếu như hồi đó một trong hai người chĩa súng bắn về phía bên kia, sẽ không có ngày hôm nay”.
      Nghe Ariam Robinson kể về cuộc đời mình sau khi trở về Mỹ, o Lai cũng không ngờ mình lại là người hạnh phúc hơn Ariam. “Là một phi công Mỹ về hưu, Ariam thất nghiệp 6 năm nay (tính từ ngày gặp o). Anh ấy vẫn sống trong một căn hộ tập thể, chưa có nhà riêng. Khi nghe tui giới thiệu về con cháu mình, Ariam rất buồn: Ariam cưới đến hai người vợ, không có người vợ nào sinh con cho Ariam. Vì thế, Ariam xem hai đứa con gái của người vợ thứ hai như con đẻ của mình”, o Lai nói về hoàn cảnh của Ariam Robinson.
      Ariam thừa nhận, từ lâu anh rất muốn một lần sang Việt Nam tìm gặp lại o Lai, nhưng hoàn cảnh không cho phép. Đến khi Hãng NHK của Nhật Bản mời Ariam sang Việt Nam thực hiện bộ phim tài liệu “Cuộc hội ngộ sau 30 năm” (do NHK phối hợp với Đoàn làm phim tư liệu Trung ương thực hiện, do Lê Mạnh Thích làm đạo diễn) thì Ariam mới cùng vợ gặp lại o Lai, và được thăm lại chiến trường năm xưa.
      Những ngày tìm về chiến trường xưa - nơi o Lai phát hiện và dẫn Ariam Robinson về Huyện ủy, mọi người rất xúc động khi tìm lại được cái hang mà trước đây Ariam Robinson đã ẩn nấp. Khi nhìn thấy hang, Ariam thốt lên: “Hồi đó, tôi ngồi trong hang này, thấy chị nhỏ quá, không rút súng ra bắn”. “Sự thật, tui thấy anh ngồi lù lù như một con gấu trong hang, tôi cũng hơi thoáng sợ, rồi do phản xạ tự nhiên, tui vẫn nhanh chóng bóp cò bắn ba phát chỉ thiên”, o Lai đáp lại.
       Không giấu giếm niềm hạnh phúc khi tìm lại được kỷ niệm của chiến tranh, Ariam và o Lai đều nói: “Chúng ta đều không muốn chiến tranh. Cuộc gặp gỡ bất đắc dĩ ngày hôm đó là ngoài ý muốn chúng ta”.

Lê Văn Định