Nghiên cứu phê bình

Nhận diện về truyện trinh thám Việt Nam


Ngày cập nhật: 26/11/2019 00:00:00

NGUYỄN VĂN HÙNG

 

Xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, truyện trinh thám Việt Nam đã để lại nhiều dấu ấn và thành tựu quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Không ít tác giả đã thành danh với những tác phẩm có sức lan tỏa trong đời sống tinh thần người Việt một thời. Cùng với những biến động của đời sống chính trị, lịch sử, xã hội và sự giao lưu văn hóa đa phương, đa chiều, thể loại này đã có lúc trở nên nhạt nhòa, thậm chí vắng bóng trong dòng chảy văn học nước nhà. Những nỗ lực của một vài cây bút những năm gần đây là chưa đủ để tìm lại một thời vàng son của thể loại. Nhận diện về dấu ấn, thành tựu cũng như giới hạn của truyện trinh thám Việt Nam là bước khởi đầu trong việc góp phần kiếm tìm hướng đi mới cho thể loại nhằm đa dạng hóa nền văn học Việt Nam hiện đại.

Từ sự xuất hiện đầy ấn tượng nửa đầu thế kỷ XX

Cùng với việc hình thành chữ quốc ngữ, văn học nửa đầu thế kỷ XX chịu sự tác động đa chiều của nhiều yếu tố: sự xuất hiện của báo chí, nghề in, xuất bản; phong trào dịch thuật, phiên âm; ảnh hưởng từ tiểu thuyết Trung Hoa, tiểu thuyết/ văn hóa phương Tây... Kể từ đây, nền văn học Việt Nam bước vào tiến trình hiện đại hóa và vận động đổi mới mạnh mẽ. Song hành với nền văn học mới là công chúng độc giả mới và nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ khác. Đây cũng là lúc các nhà văn bắt đầu thể nghiệm với những thể loại và lối viết mới phù hợp với tâm lý, thị hiếu, nhu cầu thẩm mỹ của người đọc đương thời.

Trước khi truyện trinh thám ra đời, một loại truyện gần cận với thể loại này cũng hấp dẫn bạn đọc bằng việc khám phá những vụ án bí hiểm, ly kì, đó là truyện công án của Trung Quốc. Loại truyện này du nhập vào nước ta khá sớm, ngay từ đầu thế kỷ đã có bản dịch tiếng Việt như Long đồ kỳ án (1906), Bao công kỳ án (1925)... Cùng với đó, từ những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, tiểu thuyết trinh thám phương Tây được biết đến rộng rãi ở Việt Nam. Truyện trinh thám của Edgar Allan Poe, Conan Doyle, Gaston Leroux, Maurice Leblanc, Georges Simenon... được dịch và in theo dạng sách ba xu (in bằng giấy nhật trình, giá bán ba xu, bỏ túi, đọc bất kỳ đâu), được bày bán rộng khắp ở các đô thị và hút về một lượng độc giả lớn. Với tinh thần cầu thị và khoa học luận chứng, tiểu thuyết trinh thám phương Tây được nhiều thế hệ tri thức mới ở Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh.

Từ những yếu tố nội sinh và ngoại sinh ấy, truyện trinh thám Việt Nam có cơ hội trỗi dậy và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của độc giả ở các đô thị. Người có công mở đầu cho truyện trinh thám ở Việt Nam chính là Biến Ngũ Nhy. Từ khoảng năm 1917, ông đã giữ mục “Mật thám truyện” trên Công Luận báo, chuyên dịch các tác phẩm trinh thám nước ngoài ra tiếng Việt. Song song với việc dịch thuật, tác phẩm hoàn chỉnh đầu tiên về truyện trinh thám được viết bằng tiếng Việt (chữ quốc ngữ) là Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc (khởi in trên Công Luận báo từ 1917 đến 1920). Ngay lập tức tác phẩm thu hút sự quan tâm đón nhận nồng nhiệt của công chúng do phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ người Việt và được văn giới đánh giá rất cao bởi tính hiện đại của nó. Sau dấu ấn này, văn đàn miền Nam chứng kiến sự nở rộ của tiểu thuyết trinh thám, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945 với các tên tuổi như: Nguyễn Chánh Sắt (Gái trả thù cha), Nam Đình Nguyễn Thế Phương (Khép cửa phòng thu, Chén thuốc độc, Giọt lệ má hồng), Sơn Vương (Bát cơm chan máu, Chén cơm lạt, Tướng cướp hào hoa), Bửu Đình (Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ), Lê Hoằng Mưu (Lá huyết thư, Người bán ngọc), Đức Phú (Châu về Hiệp Phố)... Có thể thấy, truyện trinh thám của các cây bút miền Nam ảnh hưởng đậm nét truyện võ hiệp, truyện công án của Trung Quốc và truyện trinh thám phương Tây. Đồng thời, các tác giả đã biết đan cài nhiều yếu tố truyền thống văn hóa của cư dân vùng sông nước khiến cho tiểu thuyết trinh thám dung hợp chất võ hiệp/ nghĩa hiệp - ái tình - vụ án.

Dù ra đời sau truyện trinh thám miền Nam, truyện trinh thám ở miền Bắc lại nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trên bình diện chủ đề, tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật. Thế Lữ với tập truyện đầu tay Vàng và máu (1934) được đánh giá là người có công mở đầu cho thể loại văn học trinh thám ở miền Bắc. Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm của Thế Lữ nhanh chóng trở thành “hiện tượng mới lạ” trên văn đàn, gây tò mò và xúc động cho công chúng đương thời bởi lối kể chuyện hấp dẫn, cốt truyện gay cấn, tình tiết li kỳ, giọng văn thanh thoát, ngôn ngữ tự nhiên, giàu cảm xúc. Sau dấu ấn này, Thế Lữ tiếp tục trình làng những tác phẩm quan trọng khác, đặc biệt là series truyện về thám tử Lê Phong: Lê Phong phóng viên (1937), Những nét chữ, Lê Phong và Mai Hương, Đòn hẹn (1939), Gói thuốc lá (1940). Nếu như Thế Lữ được ghi nhận là người mở đầu cho thể loại trinh thám miền Bắc thì Phạm Cao Củng lại được mệnh danh là “Vua truyện trinh thám Việt Nam” với nhiều tác phẩm đặc sắc như Vết tay trên trần (1936), Cái gia tài nhà họ Đặng, Máu đỏ lòng son, Chiếc tất nhuộm bùn (1938), Người một mắt (1940), Nhà sư thọt, Kỳ Phát giết người (1941), Đám cưới Kỳ Phát (1942)... Sáng tác của Phạm Cao Củng được giới phê bình đương thời đánh giá rất cao bởi “những nhân vật và khung cảnh do ông sáng tạo đều có tính chất Việt Nam, hợp với trình độ người Việt” (Vũ Ngọc Phan - Nhà văn Việt Nam). Thám tử Kỳ Phát (truyện của Phạm Cao Củng) cùng thám tử Lê Phong (truyện của Thế Lữ) trở thành những nhân vật trứ danh được nhắc đến nhiều nhất trong thể loại trinh thám miền Bắc. Cùng với Thế Lữ, Phạm Cao Củng, trên văn đàn lúc bấy giờ còn xuất hiện Bùi Huy Phồn với các tác phẩm tiêu biểu như Lá huyết thư (1931),  Mối thù truyền kiếp (1942), Gan dạ đàn bà (1942), Tờ di chúc (1943); Lê Văn Trương, người được mệnh danh là “Người khổng lồ” trong văn học đại chúng với tập truyện Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích (1934) và hàng chục tiểu thuyết trinh thám. Những sáng tác của Thế Lữ, Phạm Cao Củng, hay Bùi Huy Phồn, Lê Văn Trương đã góp phần làm nên diện mạo thể loại trinh thám miền Bắc.

Có thể nói đây, nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945 được coi là “mùa vàng” của truyện trinh thám Việt Nam. Với lực lượng sáng tác đông đảo, số lượng tác phẩm gia tăng, sự đa dạng trong lối viết và hình thức thể hiện, sự vượt thoát khỏi mô hình truyện võ hiệp, công án Trung Quốc cũng như thể loại trinh thám phương Tây, thể loại này luôn duy trì được một lượng độc giả tương đối lớn ở các đô thị, trở thành dòng văn học nổi bật bên cạnh thơ mới, văn xuôi Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết lịch sử. Kể từ đây, văn chương trinh thám của người Việt khẳng định được chân diện và bản sắc của mình.

Đến sự vắng bóng và đánh mất vị thế trên văn đàn

Sau “mùa vàng” ở cả hai miền, truyện trinh thám bắt đầu vắng bóng và không để lại nhiều dấu ấn về số lượng người viết cũng như chất lượng nghệ thuật. Từ năm 1945, tình hình lịch sử, chính trị ở nước ta có nhiều biến động. Cả dân tộc bước vào hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ở miền Bắc, một thời đại mới trong văn học xuất hiện, những thành tựu trước đó của thơ mới, văn xuôi Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết lịch sử, truyện trinh thám hoặc là đến hồi cáo chung hoặc là nhường vai trò lịch sử cho nền văn học cách mạng. Thể loại tiểu thuyết, trong đó có tiểu thuyết trinh thám vốn nặng về chức năng giải trí, đăng dài kỳ trên báo chí tỏ ra không hợp với yêu cầu của thời đại. Lúc này các nhà văn bắt đầu chuyển sang sáng tác các thể loại và đề tài có tính thời sự và mang hơi thở thời đại. “Câu chuyện cảnh giác”, “Chuyện vì an ninh Tổ quốc” phục vụ cho nhiệm vụ trước mắt của cách mạng có cơ hội phát triển.

Ở miền Nam, nền văn học đô thị ra đời và phát triển theo nhiều khu vực, bộ phận, trào lưu, khuynh hướng mới: khuynh hướng phong tục, khuynh hướng luân lý, khuynh hướng luận đề, khuynh hướng xã hội, khuynh hướng tôn giáo... (khu vực truyền thống); khuynh hướng hiện sinh, khuynh hướng phân tâm học, khuynh hướng tiểu thuyết mới, khuynh hướng lãng mạn... (khu vực cách tân). Trong đó, khu vực cách tân ngày càng triển nở và chiếm vị trí quan trọng trên văn đàn. Chính sự thay đổi thị hiếu, nhu cầu công chúng độc giả một phần nào đó khiến truyện trinh thám, vốn trỗi dậy mạnh mẽ một thời, nay trở nên nhạt nhòa, lạc lõng và đánh mất vị thế.

Từ 1945 đến trước đổi mới 1986, văn đàn Việt chứng kiến “sự đứt gãy” của văn học trinh thám. Sự xuất hiện của X30 phá lưới (Đặng Thanh), Ván bài lật ngửa (Nguyễn Trương Thiên Lý), Ông cố vấn (Hữu Mai), Ông tướng tình báo và hai bà vợ (Đặng Trần Thiết)... là những nỗ lực mang tính cá nhân của mỗi nhà văn ở cả hai miền, chưa trở thành một dòng riêng. Những nhà văn vốn đã thành danh với thể loại trinh thám trước đây nay sáng tác không nhiều, các tác phẩm không đủ hấp dẫn, không thu hút được sự quan tâm của công chúng.

Sau đổi mới (1986), đời sống văn học nước nhà có sự chuyển mình mạnh mẽ. Với tinh thần dân chủ, tự do, nhiều mảng văn học được phục sinh cũng như xuất hiện nhiều cảm hứng, lối viết, phong cách mới. Những năm đầu đổi mới, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của truyện tình báo, phản gián - một tiểu loại của văn học trinh thám. Nổi bật nhất là Đặng Thanh, tác giả của hàng loạt tác phẩm “ăn khách” với số lượng phát hành ấn tượng: Tấm bản đồ thất lạc (1983) - 30.000 cuốn, Đọ sức (1986) - 30.320 cuốn, Lần theo chuỗi hạt (1987) - 20.300 cuốn, Nữ điệp viên sao Chăm-pa (1988) - 20.000 cuốn, Đi tìm thần chết (1989) - 5.000 bản, Lá thư vĩnh biệt của Jacqueline (1990) - 3.000 cuốn... Tuy vậy, đây lại là hiện tượng cá biệt được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có một phần không nhỏ do thời kỳ này truyện tình báo, hình sự, phản gián của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu được dịch, xuất bản ồ ạt ở Việt Nam. Và những thành công của Đặng Thanh một phần nào đó có sự giúp sức từ làn sóng này. Để rồi sau đó, văn học trinh thám tiếp tục vắng bóng.

 Đến những năm gần đây, thể loại văn học trinh thám bắt đầu được quan tâm trở lại với không ít tác phẩm nổi tiếng đầu thế kỷ XX được tái bản (Túy Hoa Đình, Lửa phiền cháy gan - Nam Đình Nguyễn Thế Phương). Bên cạnh đó, những sân chơi dành cho các nhà văn đam mê và có sở trường về thể loại trinh thám - hình sự cũng được mở ra, thu hút đông đảo các nhà văn tham gia như: cuộc thi viết về truyện trinh thám do các báo tổ chức hay cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” do Bộ Công an phối hợp Hội Nhà văn Việt Nam phát động (3 năm một lần, đến nay là lần thứ IV (2017 - 2010)). Những dấu hiệu tích cực trên đây phần nào thể hiện sự trở lại của thể loại truyện trinh thám trong đời sống văn học Việt Nam đương đại. Thế nhưng soi về quá khứ, nhìn vào thực tại, chúng ta không khỏi phải chạnh lòng, lo lắng.

Hiện nay, số người chuyên tâm/ chuyên nghiệp với đề tài cũng thật hiếm hoi, đa phần những tác phẩm tiêu biểu đều đi ra từ các cuộc thi hoặc những đơn đặt hàng và không phải tất cả đều có thể neo đậu lâu dài trong lòng độc giả. Ở một khía cạnh khác, những sáng tác vốn đã ít ỏi, chất lượng nghệ thuật lại chưa cao thật khó lòng có thể cạnh tranh với dòng văn học trinh thám được dịch từ nước ngoài. Mặc dù vẫn còn đó những vấn đề liên quan đến việc cách chọn tác giả, tác phẩm hay chất lượng dịch thuật, song trên thực tế nó đã trở thành làn sóng mạnh tác động không nhỏ đến đời sống văn học nước nhà. Những tác giả nổi tiếng, những tác phẩm đoạt giải, những bestseller liên tục “đổ bộ” khiến truyện trinh thám Việt Nam bị lép vế, mất hút, ngậm ngùi nhìn những sản phẩm ngoại chất lượng ồ ạt đến tay độc giả trong nước. Nhu cầu của độc giả là có, thậm chí nhiều và ngày càng cao; trong khi thị trường nội dường như không đủ sức đáp ứng, họ đành hướng về tác phẩm nước ngoài. Bên cạnh các tác phẩm trinh thám kinh điển được tái bản liên tục, những sáng tác mới nhất của các nhà văn trinh thám nổi tiếng hay mới nổi được các nhà xuất bản “săn lùng” và cập nhật ngay khi mới xuất bản. Đó còn chưa kể đến dòng truyện tranh trinh thám dịch từ tiếng Nhật cũng thu về một lượng độc giả nhí tương đối lớn. Có thể nói, truyện trinh thám dịch từ các nền văn học có truyền thống như Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc... đã “bành trướng” thống ngự thị trường khiến truyện trinh thám Việt Nam bị lép vế, mất hút, đánh mất vị thế ngay trên “sân nhà” của mình.

Sự hoài vọng về một thế hệ cầm bút mới ở Việt Nam

Mặc dù bị lép vế, đánh mất vị thế, song bức tranh văn học trinh thám Việt Nam đương đại không phải không có những gam màu sáng. Thông qua các cuộc thi được tổ chức định kỳ, xuất hiện thêm nhiều gương mặt mới và những tác phẩm có giá trị nghệ thuật được công chúng độc giả đón nhận: Đêm yên tĩnh (Hữu Mai), Một thế giới không có đàn bà (Bùi Anh Tấn), Sát thủ online (Nguyễn Xuân Thủy), Bão ngầm (Đào Trung Hiếu), Phạm Xuân Ẩn - Tên người như cuộc đời (Nguyễn Thị Ngọc Hải), Hồ sơ một tử tù, Phiên bản, Cô mặc sầu (Nguyễn Đình Tú), Ổ buôn người (Giản Tư Hải)... Điều đáng mừng là sau cuộc thi, các nhà văn vẫn tiếp tục theo đuổi đề tài và cho ra mắt những sản phẩm chất lượng như Nguyễn Xuân Thủy với Có tiếng người trong gió, Bùi Anh Tấn với Thám tử yêu, Giản Tư Hải với Mật mã Cham-pa, Minh Mạng mật chỉ...  Bên cạnh một vài cây bút đã thành danh với thể loại như Đặng Thanh, Hữu Mai, hay một số cây bút dần khẳng định được phong cách của mình qua các cuộc thi như Nguyễn Đình Tú, Giản Tư Hải, Nguyễn Xuân Thủy..., trên văn đàn Việt Nam xuất hiện thêm những cây bút lựa chọn thể loại trinh thám để theo đuổi và nhanh chóng đạt được những thành tựu bước đầu như Di Li với Trại Hoa Đỏ, Câu lạc bộ số 7, Quang Vinh với Biến mất, Bùi Chí Vinh với Những hiệp sĩ Zmen... Trong số này, Di Li là gương mặt sáng giá nhất. So với các nhà văn cùng thời, tiểu thuyết của nữ nhà văn này được đánh giá đậm chất trinh thám, giàu chất nghệ thuật hơn cả. Từ Trại Hoa Đỏ (2007) đến Câu lạc bộ số 7 (2015), tác giả luôn tự làm mới mình bằng việc mở rộng biên độ đề tài trinh thám sang địa hạt tôn giáo, văn hóa, tâm lý. Với lối kể chuyện thông minh, biến hóa; cốt truyện gay cấn, kịch tính; sự đan cài khéo léo chất hiện thực và tính ma mị; tác phẩm của chị không những đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của công chúng độc giả đương thời mà còn được giới nghiên cứu, phê bình đánh giá cao. Không chỉ giàu tính nghệ thuật, tiểu thuyết của Di Li còn đậm giá trị nhân văn. Những câu chuyện rùng rợn, kỳ bí, những mối quan hệ phức tạp, éo le chỉ là cái cớ để Di Li khám phá, đào bới tận cùng bản thể người; từ đó trình hiện, luận giải những câu chuyện về cuộc đời và nhân tính, về cái ác và lòng thiện, về sự đa đoan và phức tạp trong đời sống con người. Nhờ vậy những trang viết của Di Li không còn cứng nhắc, khô cứng, mà trở nên mềm mại, giàu sức gợi, ám ảnh, tính đa thanh, đa nghĩa về một cuộc sống bộn bề, phức tạp cùng thân phận, bi kịch con người từ quá khứ đến thực tại. Di Li đã thực sự mở ra cho mình một lối đi riêng và cũng gián tiếp thúc đẩy văn học trinh thám Việt Nam bước sang một giai đoạn mới. Song, chị và tác phẩm của mình được coi là “của hiếm” tìm “vàng mắt” mới thấy đã phần nào nói lên sự thiếu hụt trầm trọng về lực lượng sáng tác cũng như phẩm chất nghệ thuật ở thể loại này.

Từ thực trạng này cần hơn bao giờ hết sự đổi mới tư duy của người cầm bút và sự vào cuộc mạnh mẽ của cả đời sống văn học để có thể đưa truyện trinh thám Việt trở lại vị thế vốn có. Với các nhà quản lý văn hóa, cần tạo ra nhiều sân chơi, khuyến khích, động viên những cây bút đam mê, có năng lực và sở trường về thể loại văn học trinh thám. Các nhà xuất bản, đơn vị phát hành sách nên có sự quan tâm thích đáng đến mảng văn học này bằng các chiến dịch đầu tư có quy mô và chiều sâu với sáng tác của các nhà văn mới; đồng thời cho tái bản những tác phẩm đặc sắc của giai đoạn trước. Nhà phê bình cần phải phát huy vai trò phát hiện, nhận diện, giới thiệu cho công chúng độc giả những tác phẩm mới, đồng thời định hướng thị hiếu thẩm mỹ của người đọc. Đặc biệt vai trò của nhà văn, những người trực tiếp dấn thân sáng tạo là vô cùng lớn. Với đặc trưng riêng của thể loại đòi hỏi nhà văn không chỉ trí tưởng tượng, sáng tạo, tài hư cấu, kể chuyện mà còn am tường các lĩnh vực của đời sống xã hội, các kiến thức khoa học trên nhiều lĩnh vực, thuần thục các thao tác phán đoán, phân tích, lập luận. Các tác giả phải tránh hai chiều hướng, hoặc tác phẩm chỉ đơn thuần là những câu chuyện vụ án, kể án, kết án, rút ra bài học (vốn nhan nhản các trên các mặt báo); hoặc quá thiên về “tả chân”, “nệ thực”, lấy sự li kỳ, rùng rợn, quái đản của các chi tiết để lôi kéo độc giả hơn là đầu tư những cốt truyện có chiều sâu nhằm phát huy trí tưởng tượng, tư duy logic, tâm thế đồng sáng tạo cùng đào xới, nghiền ngẫm, suy luận. Không riêng các nhà văn viết về đề tài trinh thám, người sáng tạo nói chung cần ý thức rõ, viết như một nhu cầu nội tại, một khát vọng vô bờ bến nhằm khai phóng tinh thần, vươn tới những câu chuyện có tầm tư tưởng, phổ quát về nhân sinh, nhân tính, nhân tình; chứ không đơn giản là chạy theo thị hiếu độc giả, kể những câu chuyện hời hợt, giật gân, hay theo đơn đặt hàng, chờ đợi phát động từ các cuộc thi để rồi sau đó mất hút. Từ đó kiếm tìm, thể nghiệm những hình thức biểu đạt mới phù hợp với sự phát triển của văn học thế giới, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của công chúng. Có như vậy, truyện trinh thám Việt Nam mới có cơ may tìm lại độc giả của chính mình, trước khi nói đến câu chuyện giành lại vị thế trên văn đàn Việt Nam.

Sẽ là quá sớm khi nói về sự hồi sinh hay hướng đi mới của văn học trinh thám Việt Nam, nhưng với nỗ lực của các nhà văn, đặc biệt là những người trẻ như Di Li, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Xuân Thủy..., độc giả có quyền hi vọng về những tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao và mang tinh thần, văn hóa Việt.

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

CÁC TIN KHÁC
Nhận diện về truyện trinh thám Việt Nam (26/11/2019)
Bác Hồ - Hình tượng thơ trong lòng nhân loại (29/7/2019)
Nguyễn Văn Chức: Một nét riêng thơ (21/11/2018)
Hình tượng Bác Hồ trong văn xuôi Việt Nam hiện đại (11/10/2018)
Thị trường văn học và tài năng, bản lĩnh, lương tri của người nghệ sĩ (3/10/2018)
Phác họa tiến trình tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ giai đoạn Trung đại đến nay (26/9/2018)
Những chiều kích tâm linh trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (12/9/2018)
Diễn ngôn tính dục trong văn xuôi hư cấu lịch sử Việt Nam sau năm 1986 (7/11/2017)
Hình tượng Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong phim truyện Việt Nam (19/10/2017)
NHẠC QUÊ HƯƠNG

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Copyright 2019 by HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT QUẢNG TRỊ